Việt Nam và nỗi oan thao túng tiền tệ

Thứ Hai, 21-12-2020, 14:05
(Ảnh minh họa)

Việt Nam đang nỗ lực xây dựng một môi trường đầu tư và kinh doanh hiện đại, ổn định, minh bạch, là điểm đến của nguồn nhân lực và dòng vốn quốc tế, hiển nhiên việc Việt Nam “phá giá đồng tiền” là một điều bất hợp lý. Do không nguồn vốn hay quyết định đầu tư khôn ngoan nào muốn lựa chọn một điểm đến đầy rủi ro khi đồng tiền bị chủ động phá giá.

Đầu tiên, phải khẳng định rằng Việt Nam không phải là một nước thao túng tiền tệ. Điều này được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chính chức trả lời vào ngày 17-12-2020, một ngày sau khi Bộ Tài chính Mỹ công bố báo cáo “Chính sách kinh tế vĩ mô và ngoại hối của các đối tác thương mại lớn của Hoa Kỳ” trong đó nhận định Việt Nam, cùng với Thụy Sĩ, là đang thao túng tiền tệ.

Ngân hàng Nhà nước đã khẳng định rằng các chính sách tiền tệ của Việt Nam, được ban hành vì nhiều mục đích kinh tế vĩ mô khác nhau, nhưng chắc chắn "không nhằm tạo lợi thế cạnh tranh thương mại quốc tế không công bằng”.

Quan trọng hơn nữa, phân tích sâu chiến lược phát triển của Việt Nam cũng sẽ thấy rõ tại sao Việt Nam không hề có ý đồ và hành động “thao túng tiền tệ” vì lợi ích.

Đối với Mỹ, mác “thao túng tiền tệ” được xác định chủ yếu tập trung ở việc một quốc gia liên tục phá giá đồng nội tệ (giá trị danh nghĩa hoặc thực tế) nhằm làm hàng hoá xuất khẩu rẻ đi và tăng khả năng thâm nhập thị trường quốc tế, đặc biệt là thị trường của Mỹ.

Đây có lẽ là một chiến lược hợp lý đối với các nền kinh tế thực hiện chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu (export-oriented countries), thí dụ như Trung Quốc giai đoạn 1990-2010 hay Hồng Kông (Trung Quốc), Singapore, Ireland hiện nay.

Tuy nhiên, Việt Nam mở cửa nền kinh tế với mục tiêu rộng hơn thế, là để hội nhập, liên thông và bắt kịp với sự phát triển chung của thế giới. Một mặt Việt Nam sẵn sàng quảng bá và cung ứng ra toàn thế giới những sản phẩm đặc thù của mình, như nông sản, da giầy, dệt may, hàng điện tử, … đồng thời sẵn sàng nhập khẩu những sản phẩm khác theo đòi hỏi của thị trường nội địa, bao gồm cả linh kiện điện tử, ô-tô, máy bay, điện thoại, nông sản và các loại nguyên vật liệu.

Quan trọng hơn hết là Việt Nam đang nỗ lực xây dựng một môi trường đầu tư và kinh doanh hiện đại, ổn định, minh bạch, là điểm đến của nguồn nhân lực và dòng vốn quốc tế.

Khi hiểu rõ chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam như vậy, hiển nhiên việc Việt Nam “phá giá đồng tiền” là một điều bất hợp lý. Không nguồn vốn hay quyết định đầu tư khôn ngoan nào muốn lựa chọn một điểm đến đầy rủi ro khi đồng tiền bị chủ động phá giá. Vì vậy, đây cũng là điều mà Việt Nam chắc chắn không muốn làm.

Khái niệm “quốc gia thao túng tiền tệ” của Mỹ

Khái niệm “quốc gia thao túng tiền tệ” là một sản phẩm đặc trưng độc đáo của Mỹ, duy nhất được Mỹ thể chế hóa thành một nội dung trong Luật Cạnh tranh và thương mại quốc tế Omnibus năm 1988.

TS Nguyễn Xuân Hải 

Trong Luật này, Tổng thống Mỹ, qua Bộ Tài chính, phải thực hiện báo cáo hai lần một năm về chính sách kinh tế và tỷ giá quốc tế, gồm nhiều khía cạnh như thặng dư thương mại, thặng dư cán cân vãng lai, mua bán ngoại hối, chính sách tiền tệ, chính sách kiểm soát dòng vốn, hoạt động tỷ giá, tích luỹ ngoại hối và tất cả các hoạt động liên quan khác.

Trên cơ sở báo cáo tổng quan, Tổng thống Mỹ có thể gắn mác “thao túng tiền tệ” cho một quốc gia và có quyền đẩy nhanh các đàm phán, hoặc trực tiếp hoặc qua Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), để yêu cầu các quốc gia đó có những điều chỉnh chính sách hợp lý.

Căn cứ trên Luật này, khi một nước được xác định là thao túng tiền tệ sẽ không được phép tham gia vào các hợp đồng kinh tế với Chính phủ Mỹ.

Năm 2015, dưới thời Tổng thống Obama, Luật Xúc tiến và Thực thi Thương mại (Trade Facilitation and Trade Enforcement Act) được ban hành, trong đó yêu cầu Bộ Tài chính phải thực hiện báo cáo đối với từng đối tác thương mại lớn và mở rộng các biện pháp “trừng phạt” các quốc gia được xác định là thao túng tiền tệ, thí dụ như áp dụng thuế quan và các rào cản thương mại. Tuy nhiên, các biện pháp chỉ có thể được áp dụng sau ít nhất một năm đàm phàn.

Kể từ đó tới nay, Bộ Tài chính Mỹ đã thực hiện các báo cáo đều đặn dựa trên ba tiêu chí, bao gồm (i) Thặng dư thương mại hàng hóa song phương với Hoa Kỳ ít nhất 20 tỷ USD; (ii) Thặng dư cán cân vãng lai tương đương ít nhất 2% GDP; (iii) Can thiệp một chiều và kéo dài trên thị trường ngoại tệ, thể hiện qua việc mua ròng ngoại tệ trong ít nhất 6 tháng trong khoảng thời gian 12 tháng với tổng lượng ngoại tệ mua ròng trong 12 tháng tương đương ít nhất 2% GDP. Khi một quốc gia “thỏa mãn” cả ba tiêu chí này, Mỹ sẽ gắn mác “quốc gia thao túng tiền tệ” và các bước tiếp theo được tiến hành.

Tính đến nay, Mỹ đã dựa trên báo cáo đơn phương của mình và gán mác “thao túng tiền tệ” cho Hàn Quốc vào năm 1988, Đài Loan (Trung Quốc) lần thứ nhất cũng vào năm 1988 và lần tiếp theo vào năm 1992, Trung Quốc trong 3 năm liên tục từ năm 1992 đến 1994.

Đáng chú ý là tháng 8 năm 2019, Trung Quốc cũng bị gán mác “thao túng tiền tệ” nhưng không xuất phát từ bất kỳ báo cáo nào. Khi kỳ báo cáo tháng 1 năm 2020 được công bố, Trung Quốc không vi phạm đủ ba tiêu chí kể trên và vì vậy mác “thao túng tiền tệ” cũng được gỡ bỏ.

Hai vấn đề cần được hiểu đúng

Thứ nhất, về lý luận, ba tiêu chí do Bộ Tài chính Mỹ đưa ra không phải là căn cứ vững chắc để xác định một quốc gia có hay không thao túng tiền tệ. Như đã nêu ở trên, đối với Mỹ, thuật ngữ “thao túng tiền tệ” được dùng để xác định việc một quốc gia can thiệp vào tỷ giá ngoại hối, giảm giá trị nội tệ so với đồng đô-la Mỹ (giá trị danh nghĩa hoặc thực tế) để đẩy mạnh xuất khẩu, đặc biệt là sang Mỹ.

Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một lý thuyết kinh tế - tài chính quốc tế nào có thể khẳng định thế nào “tỷ giá đúng” giữa hai loại tiền tệ, cũng như các tiêu chí để xác định tỷ giá này.

Trong khung lý thuyết đơn giản nhất về tỷ giá danh nghĩa, tỷ giá trên thị trường, thí dụ giữa VND và USD, thường được xác định tương đối bởi (i) lãi suất cơ bản ở Việt Nam; (ii) lãi suất cơ bản ở Mỹ; và (iii) chính sách tiền tệ lâu dài của cả hai quốc gia. Và theo khung lý thuyết này, với chính sách lãi suất đã ở mức thấp kỷ lục và lượng tiền cơ sở tăng hơn gấp 4 lần từ sau khủng hoảng 2008-2009 đến nay, có vẻ như chính Mỹ mới là nước muốn thực hiện chính sách đồng đô-la yếu và có xu thế “thao túng tiền tệ”.

Bên cạnh đó, nếu “tỷ giá thực tế” được sử dụng làm thước đo trong việc xác định “quốc gia thao túng tiền tệ”, các khung lý thuyết cơ bản nhất về “tỷ giá thực tế” cũng đòi hỏi rất nhiều yếu tố đặc thù của nền kinh tế, như trình độ phát triển, thu nhập bình quân và cấu phần các giỏ hàng hoá tương ứng với nền kinh tế được đánh giá và nghiên cứu kỹ.

Khi sử dụng các chỉ số mô phỏng “tỷ giá thực tế”, thí dụ như chỉ số “Big Mac” dựa trên giá cả của bánh kẹp thịt của hãng McDonald, một chỉ số do Tạp chí Economist xây dựng, hay chỉ số Billy của Bloomberg, chỉ số toàn cầu “Chai Latte” của Versus hay các chỉ số chính thống do IMF và các quốc gia đề xuất, “tỷ giá thực” giữa các đồng tiền thường có sự chênh lệch khá lớn. Việc đánh giá một đồng tiền có giá trị thật cao hơn, hay thấp hơn một động tiền khác là rất khó, nếu không muốn khẳng định là không thể.

Nói cách khác, việc Bộ Tài chính Mỹ sử dụng ba tiêu chí nêu trên để xác định “quốc gia thao túng tiền tệ” là thiếu căn cứ khoa học vững chắc, chưa đi vào bản chất vấn đề. Mạch lý luận giữa ba tiêu chí đưa ra và việc “thao túng tiền tệ” gần như không tồn tại.

Thứ hai, trên phương diện thực tiễn, dù đúng dù sai thì chính phủ Mỹ là chính phủ hành pháp và Bộ Tài chính Mỹ đang thực hiện các báo cáo trên cơ sở tuân thủ nghiêm túc các điều luật nội địa.

Điều này thể hiện rõ ràng trong tất cả các báo cáo trước đó mà có thể tìm thấy trên trang web của Bộ Tài chính Mỹ.[1] Những người chịu trách nhiệm chuẩn bị báo cáo bám sát một khung đề cương cơ bản, với các tiêu chí thống nhất và cách đánh giá hiện trạng minh bạch.

Với các tiêu chí như vậy, ít nhất trong vòng 5 năm trở lại đây, khi một quốc gia “thỏa mãn” hai trong ba tiêu chí nêu trên được đưa vào danh sách theo dõi; “thỏa mãn” cả ba thì được đưa vào danh sách “thao túng tiền tệ”. Mặc dù mác “thao túng tiền tệ” không phản ánh đúng nội hàm của thuật ngữ, nhưng bản chất của hành động “gán mác” trong báo cáo là một thao tác thuần túy mang tính kỹ thuật trong trường hợp này.

Nói một cách khác, việc Việt Nam nằm trong danh sách “thao túng tiền tệ” trong báo cáo gần đây nhất không phải là một tín hiệu kém tích cực trong quan hệ ngoại giao đang ngày càng tốt đẹp giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, cũng như mối quan tâm của cá nhân Tổng thống Trump đối với Việt Nam.

Như vậy, các phán đoán, hồ nghi về các yếu tố tiềm ẩn liên quan đến mâu thuẫn chính trị có thể được loại trừ; thay vào đó, các vấn đề kỹ thuật và thuần tuý kinh tế cần được ưu tiên nghiên cứu và giải quyết.

Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo?

Từ góc độ kiểm soát khủng hoảng, việc tăng tích trữ ngoại hối thông qua hoạt động thu mua đô-la Mỹ - đồng tiền thống trị trong dự trữ và thanh toán quốc tế - của Việt Nam là một động thái phòng ngừa khủng hoảng điển hình trong điều hành chính sách tiền tệ của bất kỳ quốc gia nào.

TS Nguyễn Xuân Hải 

Có thể nói, một trong những nguyên nhân hàng đầu khiến Việt Nam rơi vào vị thế hiện tại lại xuất phát từ chính sự thành công nổi trội trong phòng chống dịch Covid 19 cùng những nỗ lực của Việt Nam trong hỗ trợ các quốc gia khác ứng phó với dịch bệnh.

Khi đại dịch Covid-19 nổ ra và kéo dài trong cả năm 2020, Việt Nam nổi bật trên bức tranh quốc tế với khả năng khống chế dịch thành công. Ngoài 15 ngày đầu tháng Tư buộc phải thực hiện giãn cách xã hội trên diện rộng, các hoạt động kinh tế nội địa của Việt Nam diễn ra gần như bình thường trong suốt cả năm.

Tương phản với đó, hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là những nước lớn như Hàn Quốc, Nhật Bản, các nước châu Âu và Mỹ… đều phải không ngừng kéo dài, thậm chí là gia tăng các biện pháp giãn cách trên diện rộng, gây ảnh hưởng sâu sắc đến các hoạt động kinh tế - xã hội tại các quốc gia đó.

Tình trạng các nhà máy phải đóng cửa, các chuỗi cung ứng bị đứt gãy, lượng người thất nghiệp tăng vọt… diễn ra ở hầu hết các quốc gia.

Riêng ở Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp lên tới 14,7% vào tháng 4-2020; 44.2 triệu lao động bị ảnh hưởng bởi dịch tính đến tháng 6-2020; và GDP của Mỹ cũng tăng trưởng (tính theo năm) ở mức âm 31,4% vào quý 2 năm nay.

Trong bối cảnh đó, nền kinh tế Việt Nam vẫn cơ bản hoạt động bình thường. Đặc biệt, khi các nền kinh tế khác rơi vào trạng thái ngưng trệ, Việt Nam ngoài việc thực thi các biện pháp hạn chế nhập cảnh để khống chế sự lây lan của dịch từ bên ngoài, vẫn duy trì hoạt động xuất khẩu phục vụ các thị trường quốc tế, trong đó có Mỹ.

Không chỉ thế, khi các nước cần nhập khẩu các thiết bị và hàng tiêu dùng y tế để phục vụ công tác chống dịch, ứng phó dịch, Việt Nam cũng nằm trong số ít nước có thể đáp ứng được nhu cầu.

Thêm vào đó, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung kéo dài từ 2018 tới nay cùng với việc Trung Quốc là nước đầu tiên chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid 19 đã khiến giá trị xuất khẩu một số mặt hàng của Trung Quốc sang Mỹ, bao gồm hàng điện tử, nội thất, máy móc thiết bị cơ khí, dày dép, may mặc v.v.. – những mặt hàng lợi thế của Việt Nam – sụt giảm nghiêm trọng.

Việt Nam, với nội lực sẵn có, đã khai thác thành công khoảng trống trong nhu cầu tiêu dùng của người dân Mỹ để đẩy mạnh xuất khẩu, ngày càng gia tăng khả năng đáp ứng cho thị trường tiêu thụ của Mỹ trong suốt năm 2020. Thành công đó được thể hiện qua việc cán cân thương mại của Việt Nam, đặc biệt với Mỹ, nghiêng mạnh theo hướng thặng dư.

Từ góc độ kiểm soát khủng hoảng, việc tăng tích trữ ngoại hối thông qua hoạt động thu mua đô-la Mỹ - đồng tiền thống trị trong dự trữ và thanh toán quốc tế - của Việt Nam là một động thái phòng ngừa khủng hoảng điển hình trong điều hành chính sách tiền tệ của bất kỳ quốc gia nào.

Trong suốt hai năm 2019-2020, tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam, luôn bị đe dọa bởi bóng ma khủng hoảng tài chính và kinh tế khi căng thẳng thương mại Mỹ - Trung luôn có dấu hiệu leo thang và dịch Covid-19 kéo dài, không có dấu hiệu suy giảm.

Từ bài học của Khủng hoảng tài chính châu Á 1997, Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2010 và từ chính lời khuyên của các quốc gia phát triển (trong đó có Mỹ) và các tổ chức tài chính toàn cầu (như IMF), các quốc gia đang phát triển, các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam đều cần một lượng dự trữ ngoại hối đủ lớn để tránh hoặc xử lý được các cú sốc về tài chính và kinh tế.

Đặc biệt, trong điều kiện thực tế của Việt Nam là một nước thu hút được FDI khá lớn trong thời gian qua, và vì vậy, cũng chịu khá nhiều rủi ro nếu các nhà đầu tư nước ngoài đột ngột rút vốn trong trường hợp khủng hoảng, việc gia tăng tích lũy ngoại tệ là một điều tất yếu Việt Nam cần phải làm để phòng ngừa rủi ro, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và duy trì đà tăng trưởng trong những năm tới.

Như vậy, tính đến thời điểm Báo cáo của Bộ Tài chính Mỹ ngày 16-12-2020 vừa qua, Việt Nam “vi phạm” cả ba tiêu chí về thặng dư thương mại với Mỹ, thặng dư cán cân thương mại và thu mua ngoại hối là vì các lý do khách quan như dịch Covid-19; vì sự thành công trong công tác chống dịch Covid-19; cũng như sự chủ động trong việc hỗ trợ các nước khác trong công tác chống dịch; và vì sự ổn định kinh tế vĩ mô cũng như đà tăng trưởng của Việt Nam trong những năm tới.

Như đã phân tích ở trên, ba tiêu chí Bộ Tài chính Mỹ đang áp dụng, không chỉ không có cơ sở lý luận, mà còn thiếu căn cứ thực tiễn để gắn mác “thao túng tiền tệ” cho Việt Nam trong giai đoạn vừa qua.

Trong giai đoạn tiếp theo, mác “quốc gia thao túng tiền tiền tệ” được dự đoán sẽ không ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam cũng như mối quan hệ đối tác toàn diên Việt Nam – Hoa Kỳ.

Thứ nhất, sau khi kết quả Báo cáo của Bộ Tài chính được công bố, hai nước sẽ phải căn cứ vào kết quả này để thực hiện các đàm phán thương mại và phi thương mại kéo dài trong vòng một năm trước khi bất kỳ biện pháp trừng phạt nào của Mỹ được áp dụng. Quá trình đàm phán sẽ giúp hai nước hiểu nhau hơn và là cơ sở để đề xuất và thống nhất các giải pháp hợp lý cho cả hai bên.

Thứ hai, khi dịch được kiểm soát với sự xuất hiện rộng rãi của vaccine chống Covid-19 trên thị trường, nền kinh tế thế giới sẽ dần khôi phục trạng thái bình thường, đưa môi trường thương mại quốc tế quay lại điểm cân bằng dài hạn. Khi đó, các biện pháp tích lũy để phòng ngừa rủi ro kinh tế, tài chính cũng sẽ không còn là ưu tiên và được giảm bớt.

Như vậy, các chỉ số của Việt Nam trong ba tiêu chí của Mỹ cũng sẽ quay lại trạng thái bình thường, phản ánh trung thực mối quan hệ kinh tế giữa Mỹ và Việt Nam trong các báo cáo tiếp theo. Việc Việt Nam được đưa ra khỏi danh sách “nước thao túng tiền tệ”, vì vậy, cũng là điều được kỳ vọng.

Nhiệm vụ trước mắt của Việt Nam đơn giản là hiểu đúng bản chất sự việc, ổn định tâm lý nền kinh tế nội địa, củng cố niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài và tiếp tục tập trung cho các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội dài hạn.

 
Nguyễn Xuân Hải (TS Kinh tế, Đại học Johns Hopkins, Mỹ), Ths Lê Quỳnh Trang và nhóm chính sách Hathaway