25 năm thực hiện chương trình hành động về dân số và phát triển

Thứ Năm, 11/07/2019, 02:29:33

Kỷ niệm Ngày dân số thế giới (11-7) năm nay là dịp đánh giá lại 25 năm thực hiện Chương trình hành động Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển (Cai-rô, Ai Cập năm 1994). Qua đó góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy Ðảng, chính quyền và toàn xã hội về vai trò, tầm quan trọng của công tác dân số đối với sự phát triển nhanh, bền vững.

25 năm thực hiện chương trình hành động về dân số và phát triển

Cán bộ dân số tỉnh Bắc Giang tư vấn sức khỏe sinh sản cho người vị thành niên trên địa bàn.

Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển được đánh dấu là điểm khởi đầu, mang tính đột phá cho các quốc gia trong việc gắn giải quyết các vấn đề dân số với phát triển bền vững. Nếu như năm 1994, chỉ có khoảng 15% số phụ nữ đã kết hôn tại các nước kém phát triển có sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, thì hiện nay tỷ lệ này là 37%. Tỷ lệ chết đối với phụ nữ khi mang thai hoặc khi sinh giảm một nửa so với 25 năm trước. Số con trung bình của một phụ nữ tại các nước kém phát triển giảm từ sáu xuống bốn con/phụ nữ… Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều việc để các nước cần thực hiện để có thể đạt được các cam kết đưa ra tại hội nghị ở Cai-rô. Chính vì vậy chủ đề Ngày dân số thế giới năm nay được Quỹ dân số Liên hợp quốc đưa ra là: “25 năm sau Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển: Thúc đẩy tiến độ nhằm đạt được những nội dung đã cam kết”.

Theo Tổng cục trưởng Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế) Nguyễn Doãn Tú, 25 năm kiên định theo những cam kết, công tác dân số của nước ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tốc độ gia tăng dân số được khống chế thành công, tốc độ tăng dân số bình quân hằng năm giảm từ 1,7% (giai đoạn 1989-1999) xuống dưới 1,2% (giai đoạn 1999-2009) và khoảng 1% (giai đoạn từ 2010 đến nay). Số con trung bình mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm mạnh từ 6,39 con (năm 1960) xuống 2,33 con (năm 1999), đạt mức sinh thay thế 2,09 con (năm 2006), sớm hơn 10 năm so với mục tiêu Nghị quyết T.Ư 4 (khóa VII) và tiếp tục được duy trì cho đến nay.

Dân số nước ta năm 2018 khoảng 95 triệu người, giảm khoảng 20 triệu so với ước tính tốc độ tăng dân số trước đây. Bên cạnh đó, cơ cấu dân số thay đổi tích cực, số lượng và tỷ trọng dân số phụ thuộc giảm, dân số trong độ tuổi lao động tăng mạnh. Cơ cấu lao động dịch chuyển theo hướng tích cực, tỷ lệ lao động trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ tăng từ hơn 27% (năm 1993) lên 56% (năm 2016); cũng khoảng thời gian đó lao động nông nghiệp giảm từ hơn 72% xuống còn 44%. Dân số nước ta đã bước vào thời kỳ dân số vàng từ năm 2007 và dự kiến đạt đỉnh vào năm 2020, với dân số trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 70% số dân. Chất lượng dân số cũng cải thiện về nhiều mặt, tỷ lệ suy dinh dưỡng và tỷ suất chết ở trẻ em đã giảm hai phần ba; tỷ số chết mẹ giảm ba phần tư so với năm 1990. Mạng lưới tầm soát, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh đã từng bước được triển khai ở tất cả các tỉnh, thành phố. Tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam tăng từ 65,5 tuổi (năm 1993) lên 73,5 tuổi (năm 2018), cao hơn các nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người…

Một điểm đáng chú ý là công tác tuyên truyền, giáo dục dân số có bước đột phá, đã triển khai sâu rộng, thường xuyên ở tất cả các cấp, các ngành, cộng đồng, gia đình và từng cặp vợ chồng. Nội dung tuyên truyền thiết thực, sinh động, dễ hiểu được đưa vào các cuộc thi, sinh hoạt văn hóa cộng đồng, giáo dục trong và ngoài nhà trường. Hình thức, sản phẩm truyền thông đa dạng, phong phú, chất lượng ngày càng cao, phù hợp từng nhóm đối tượng và lứa tuổi. Ðội ngũ cán bộ chuyên trách, cộng tác viên, tuyên truyền viên với phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng” kiên trì, thường xuyên, liên tục tuyên truyền vận động sát sao. Phát huy vai trò người có uy tín trong cộng đồng trong tuyên truyền, vận động thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, nhiều vấn đề dân số đang là thách thức đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Quy mô dân số lớn, mật độ dân số cao và tiếp tục tăng dẫn tới mức sinh chênh lệch đáng kể giữa các vùng miền và đối tượng. Tỷ số chênh lệch giới tính khi sinh vẫn tăng và có dấu hiệu ngày càng lan rộng. Thời kỳ dân số vàng đan xen già hóa dân số với tốc độ rất nhanh dẫn đến tình trạng không tận dụng triệt để nguồn lao động vàng.

Ðể giải quyết những thách thức đó, theo Tổng cục trưởng Nguyễn Doãn Tú, trong thời gian tới, công tác dân số cần tiếp tục thực hiện các mục tiêu của Chương trình hành động ICPD và đặc biệt tập trung vào duy trì vững chắc mức sinh thay thế; đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; tận dụng hiệu quả lợi thế cơ cấu dân số vàng; thích ứng với già hóa dân số một cách chủ động; phân bố dân số hợp lý; từng bước nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển kinh tế - xã hội, góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững.

THANH MAI