Nhà văn có tiếng đàn môi

Thứ Ba, 26-11-2019, 15:44
Chân dung nhà văn Đỗ Bích Thúy của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

Xin được nói ngay đó là nhà văn Đỗ Bích Thúy. Một tên tuổi văn chương gắn liền với những sáng tác miền núi, đặc biệt là những tác phẩm viết về người H’Mông vùng cao phía bắc. Tiếng đàn môi gắn với tít bài này cũng gợi đến một truyện ngắn nổi tiếng của chị làm xôn xao văn đàn và khuấy động điện ảnh. “Tiếng đàn môi sau bờ rào đá” đã được đạo diễn Ngô Quang Hải tựa vào để làm nên phim “Chuyện của Pao” đình đám năm nào.

Tôi biết đến Đỗ Bích Thúy từ chùm truyện ngắn đoạt giải nhất cuộc thi Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1998-1999. Không hiểu sao tờ tạp chí nhà binh này luôn có duyên với những tác giả nữ như Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban... Họ tài năng đã đành, lại còn xinh đẹp và sắc sảo. Nói thế có thể Đỗ Bích Thúy sẽ giãy nảy, sắc sảo gì em, ngố lắm anh ạ. Chuyện ngố thì nói cho vui chứ đã là nhà văn kể cả nam lẫn nữ tôi tuyệt chưa thấy một ai ngù ngờ mà đều sắc cạnh, cá tính hắt lên.

Ngày Thúy trình làng văn chùm truyện đầu tay và ẵm ngay giải Nhất có thể nói là một sự kiện. Giải thưởng Văn nghệ Quân đội rất uy tín. Ai đoạt giải cao ở đây hiếm khi bỏ cuộc văn chương. Họ đều coi giải thưởng như một cú hích để dấn thân vào con đường chữ nghĩa nhọc nhằn nhưng cũng đầy vui thú. Nói vui thú để tránh cái từ “vinh quang” giờ đã trở nên cũ kỹ sáo mòn và không chút thực chất. Nhưng tại sao giải thưởng của Thúy lại là một sự kiện? Chưa hẳn bởi lúc đoạt giải, cây bút còn rất trẻ mới tốt nghiệp đại học được vài năm. Tôi còn nghe phong thanh là giải thưởng đã hòm hòm cả rồi thì nữ tác giả miền núi này mới gửi truyện tham gia. Nghĩa là gửi rất muộn mằn, sát hạn kết thúc nộp quyển. Thế nhưng chùm truyện gửi muộn đã làm đảo lộn tất cả. Ngôi vị cao nhất xứng đáng này không chỉ làm xáo trộn giải thưởng mà còn thay đổi cả số phận tác giả.

Đỗ Bích Thúy sinh sống ở Hà Giang và trưởng thành ở môi trường miền núi dù chị không phải là người dân tộc. Phàm những người gắn bó với miền núi thì văn thường khoáng đạt và nhuần nhị tự nhiên như cỏ cây, rừng núi. Đọc rất sướng, rất đã.

Độc giả Việt Nam quen đọc quen hiểu về miền núi qua những nhà văn thành danh lớp trước như Tô Hoài, Nguyễn Thành Long, Ma Văn Kháng. Sau này là Nguyễn Huy Thiệp và một số nhà văn khác... Tác phẩm của họ đương nhiên là hay nhưng cũng phải công nhận phía sau sự mê mẩn lạ lẫm về một vùng đất đai kỳ thú, về những câu chuyện vô tiền khoáng hậu thì ít nhiều ta cũng nhận ra ngôn ngữ của cái tạng người miền xuôi viết về miền núi. Đỗ Bích Thúy thì khác. Phong tục tập quán trong truyện được miêu tả kỹ lưỡng đến đường tơ kẽ tóc. Đặc biệt là ngôn ngữ. Lối nói miền núi nhất là của người H’Mông được nữ nhà văn khai thác triệt để. Là người đi miền núi nhiều, đến với nhiều vùng người H’Mông sinh sống, tiếp xúc với không ít người của dân tộc độc đáo này nên khi đọc Đỗ Bích Thúy, tôi hoàn toàn bị thuyết phục. Đọc và cứ thầm ước ao có một phim truyền hình dài tập về người H’Mông cho thỏa chí tang bồng.

Sau thành công vang dội ban đầu, Đỗ Bích Thúy rời Hà Giang chuyển vùng về Hà Nội. Chị nhận công tác biên tập ở ngay tòa soạn Tạp chí Văn nghệ Quân đội nơi giúp chị thành danh. Từ một Hội văn nghệ tỉnh lẻ về một trung tâm văn chương nhất nhì đất nước, có thể nói đây chính là bệ phóng cho ngòi bút của chị cất cánh. Thúy viết đều và khỏe. Lần lượt các tác phẩm thi nhau ra đời trong đó nữ nhà văn bạo gan thử sức cả với đề tài đô thị. Đọc nhiều tác phẩm của Thúy, tôi dám quả quyết khi nhà văn xinh đẹp này trượt ra khỏi sở trường hiểu biết miền núi thì sự thành công không thể được như mong đợi.

Có một điều không thể giải thích được là mặc dù hoạt ngôn, sống phóng khoáng rộng rãi trong mọi quan hệ, bạo dạn trong giao tiếp nhưng tôi rất ngần ngại khi tiếp xúc với Đỗ Bích Thúy, người mà tôi ngưỡng mộ cả văn tài lẫn nhan sắc. Thế nên cái sự ước ao làm một phim về dân tộc H’Mông trong tôi cứ trôi dần theo ngày tháng. Ngay cả khi Thúy đảm nhiệm chức vụ Phó Tổng biên tập tờ tạp chí Văn nghệ Quân đội danh giá, tôi vẫn không có cách gì để làm thân được với chị bởi dường như có một khoảng cách khá lớn giữa chúng tôi.

Rồi nghe tôi bình về phim “Chuyện của Pao”, rằng phim hay về sinh hoạt, tập tục nhưng nhân vật thì chưa khắc họa được đúng với những gì Đỗ Bích Thúy dày công xây dựng, biên kịch Vũ Thu Phong - bạn thân của Thúy tán đồng nhận xét ấy và bảo: hay là anh giúp chị Thúy biên kịch một bộ phim về người H’Mông? Cuộc đời có những sắp xếp kỳ lạ như vậy. Tôi nói, nếu Thúy lấy cốt truyện vừa “Lặng yên dưới vực sâu” để phát triển làm phim thì tôi sẵn sàng đồng hành. Rất may là Đỗ Bích Thúy cũng tâm đắc với câu chuyện đó. Chúng tôi gặp nhau như một sự đong đầy của cái duyên nghề nghiệp. Đề cương phim dài tập “Lặng yên dưới vực sâu” được đăng ký với lãnh đạo hãng phim của tôi. Tất nhiên nó được chấp nhận một cách hào hứng.

Nói thêm một chút về công việc biên tập phim. Khác với biên tập văn chương, biên tập phim thật sự là bạn đồng hành của biên kịch. Ngoài thẩm định chuyên môn, người biên tập phải tham gia vào từng công đoạn của kịch bản, từ đề cương tóm tắt nội dung câu chuyện đến đề cương chi tiết từng tập và cuối cùng là tham gia vào toàn bộ câu chuyện của kịch bản. Tôi được cơ quan phân công cùng nữ biên kịch Vũ Thu Phong làm nhiệm vụ biên tập kịch bản của Đỗ Bích Thúy. Không ít khó khăn bởi có những bất đồng về quan điểm ở các công đoạn khác nhau giữa tác giả kịch bản, biên tập và đạo diễn nhưng cuối cùng phim được hoàn thành suôn sẻ. “Lặng yên dưới vực sâu” lên sóng truyền hình và giành nhiều thiện cảm của khán giả sau đó.

Tôi có thể quả quyết đây cũng là một thành công nghề nghiệp đáng kể của Đỗ Bích Thúy. Từ kịch bản này, Thúy tiếp tục viết những kịch bản khác, cho cả điện ảnh lẫn truyền hình. Có thêm một tình tiết thú vị là khi phim “Lặng yên dưới vực sâu” lên sóng, Đỗ Bích Thúy đã kịp hoàn thành cuốn tiểu thuyết mang chính tên của truyện vừa và kịch bản này. Một sự thâm canh với năng suất rất cao dù nó hơi ngược bởi thông thường thì các biên kịch chuyển thể từ văn học sang điện ảnh, truyền hình chứ ít người làm ngược lại, hoàn thành kịch bản mới viết tiểu thuyết dù trước đó đã có cơ sở từ một truyện vừa.

Làm việc với Thúy, tôi có dịp hiểu hơn về nữ nhà văn xinh đẹp này. Thúy nhỏ nhẹ nhưng rất quyết đoán, xử lý thông minh trong những tình huống cụ thể. Văn của kịch bản là văn nói, thoại của Thúy có mầu sắc và đặc biệt là đúng tinh thần ngôn ngữ của người H’Mông, điều mà những phim trước đây dù ngắn hay dài đều làm không đạt bởi cứ rập theo lối nói lơ lớ rất phản cảm. Tính quyết đoán là thế mạnh của bất cứ nhà văn nào nhưng với Thúy, cá tính này giúp chị có những quyết định quan trọng ở cả cuộc đời lẫn sự nghiệp.

Đỗ Bích Thúy sinh năm 1975. Trong khoảng 20 năm sáng tác chị đã kịp cho ra mắt hơn hai chục tác phẩm từ tiểu thuyết đến truyện ngắn và tạp văn. Đấy là chưa kể những kịch bản phim có tiếng vang. Có thể không may mắn lắm trong hôn nhân nhưng chị thật sự thành công trong nghề nghiệp. Thời gian gần đây, Đỗ Bích Thúy quyết định từ nhiệm chức vụ Phó Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Quân đội để toàn tâm toàn ý sáng tác. Tôi tin vào những dấu ấn tiếp theo của người đàn bà viết văn xinh đẹp này.

Phạm Ngọc Tiến