Nâng cao hiệu quả dịch vụ Logistics

Thứ Năm, 22/03/2018, 15:01:04
 Font Size:     |        Print
 

Logistics là một trong chín ngành dịch vụ trọng yếu của TP Hồ Chí Minh. Trong ảnh: Hàng hóa ra vào cảng Cát Lái.

Logistics là dịch vụ tổng hợp quan trọng, không thể thiếu để phục vụ đời sống kinh tế, nhất là với nền kinh tế đang trên đà tăng trưởng mạnh và có hoạt động giao thương sôi động như TP Hồ Chí Minh.

Do vị trí địa lý đặc thù là trung tâm kinh tế, với hệ thống cảng biển và các kho chứa hàng nên TP Hồ Chí Minh có vai trò đầu mối trong hoạt động vận chuyển hàng hóa của cả khu vực Đông Nam Bộ, chủ yếu dựa vào vận tải đường bộ và hàng không. Mới đây, thành phố đã và đang thí điểm tuyến buýt giao thông bằng đường sông. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê thành phố, năm 2017, ngành logistics của thành phố đạt 91.541 tỷ đồng, chiếm 8,6% trong tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) và 14,8% trong khu vực dịch vụ. Đây là ngành có vị trí quan trọng thứ hai trong chín ngành dịch vụ trọng yếu của thành phố, có mức tăng trưởng 10,84% so với cùng kỳ.

Bà Phạm Thị Bích Vân, Phó Giám đốc tiếp thị Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn cho rằng, tại khu vực thành phố hiện có 11 cảng làm hàng công-ten-nơ và hàng rời, với tổng diện tích hơn 310 ha và hơn 7.000 m cầu tàu, hơn 150 m2 kho trong cảng. Sản lượng các cảng tại khu vực thành phố năm 2017 đạt khoảng gần 6 triệu TEU (đơn vị của công-ten-nơ), tăng 5,5% so với năm 2016. Tại TP Hồ Chí Minh cũng có 6 ICD (điểm thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu nằm trong nội địa), với tổng diện tích 86 ha và hơn 3.200 m2 cầu tàu, hơn 91.000 m2 kho hàng. Các ICD đóng vai trò là hậu phương cho cảng Cái Mép trong bối cảnh hàng tại cảng này tăng lên mức hơn 22% trong năm 2017. Tuy nhiên, bất cập hiện nay là cảng Cái Mép có lượng hàng tồn đọng khá lớn, vì 85% hàng về cảng này được chuyển sà-lan về thành phố. Với sản lượng lớn nên khu vực giao thông quanh các ICD là khu vực xa lộ Hà Nội - điểm giao với các ICD thường xuyên xảy ra kẹt xe nghiêm trọng. Tình trạng cảng và dịch vụ logistics ở một số tỉnh lân cận cũng tương tự. Cụ thể như tại Bình Dương, các doanh nghiệp (DN) phát triển rất mạnh, hàng hóa xuất nhập khẩu lớn, nhưng cảng lại rất ít, hàng hóa của DN chủ yếu đổ về các ICD và cảng TP Hồ Chí Minh. Hiện Bình Dương có ba cảng, trong đó chỉ cảng Bình Dương có khả năng tiếp nhận tàu 5.000 tấn, công suất đạt 70 đến 75%, hai cảng còn lại chỉ có khả năng tiếp nhận sà-lan 2.000 tấn... Điều này càng gây áp lực trung chuyển hàng hóa lên các cảng khu vực TP Hồ Chí Minh.

Tổng Thư ký Hiệp hội doanh nghiệp logistics Việt Nam (VLA) Nguyễn Duy Minh, chia sẻ: “Phải nói đến từng chuỗi vụ dịch riêng của logistics mới thấy được rõ năng lực cung cấp của các logistics Việt Nam. Hiện nay, đến 90% cảng biển Việt Nam là do các DN trong nước khai thác, về vận tải đường bộ và khai quan thì chắc chắn thuộc về các DN logistics Việt Nam. Ở mảng cung cấp kho, dịch vụ kho cũng vậy. Về năng lực cung cấp dịch vụ logistics thì VLA tin rằng các DN logistics Việt Nam đủ khả năng cung cấp bất cứ dịch vụ nào thuộc chuỗi dịch vụ logistics cho tất cả DN”. Trưởng ban cố vấn chuyên môn Trường Logistics và Hàng không Việt Nam (VILAS) Trần Trí Dũng nhận định, đến nay Việt Nam đã chính thức mở cửa thị trường dịch vụ logistics cho các công ty 100% vốn nước ngoài. Đồng thời, hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN, hàng loạt hiệp định tự do thế hệ mới đã được ký kết, kế hoạch hành động logistics quốc gia đã được xây dựng và phê duyệt... tất cả chỉ còn chờ đợi vào mục tiêu hành động của các DN trong ngành.

Theo chuyên gia kinh tế Đoàn Đình Hùng, các DN logistics cần chủ động ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, vận hành, đào tạo chuỗi cung ứng logistics, tích hợp các dịch vụ logistics với các ngành sản xuất, xuất nhập khẩu để nâng cao năng lực quản trị và chất lượng dịch vụ. “Các DN nhỏ phải tăng cường liên kết để tận dụng tốt mọi nguồn lực, thế mạnh của từng DN vào đầu tư phát triển dịch vụ logistics trọn gói mới có thể cắt giảm chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ. Ngoài ra, cần phải có một tổ chức cấp nhà nước quản lý, chỉ đạo thống nhất các hoạt động của ngành logistics phục vụ thương mại trong cả nước, đồng thời nâng cao năng lực kết nối hệ thống cơ sở hạ tầng…” - ông Đoàn Đình Hùng chia sẻ. “TP Hồ Chí Minh và các địa phương thuộc khu kinh tế trọng điểm phía nam cần có chương trình hành động chung trong việc xây dựng các trung tâm logistics và kho phân phối tập trung của vùng. Việc xây dựng các kho phân phối tập trung giúp phục vụ một thị trường rộng lớn hơn, và cùng với đó là phát triển các cơ sở hạ tầng đồng bộ, từ đó tăng chất lượng dịch vụ và giảm giá thành. Các trung tâm phân phối cần phải có sự nghiên cứu quy hoạch sớm, chi tiết về sản lượng hàng, luồng hàng, dòng xe, xây dựng hệ thống đường bộ, đường thủy và đường sắt kết nối để giảm sự ùn tắc giao thông cục bộ” - Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại và đầu tư TP Hồ Chí Minh, Phạm Thiết Hòa đề xuất.


Bài và ảnh: Xuân Lộc

Chia sẻ