Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008

Có bỏ quy định về thời hạn đăng ký giữ quốc tịch?

Thứ Tư, 04-06-2014, 13:26
Những chính sách phù hợp hỗ trợ người Việt Nam ở nước ngoài sẽ góp phần phát triển đất nước (Ảnh minh họa: Trần Hải).

NDĐT - Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 bỏ quy định về thời hạn đăng ký giữ quốc tịch để không tạo áp lực về thời gian đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Tuy nhiên, theo Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, nếu bãi bỏ hoàn toàn liệu có ảnh hưởng đến lợi ích của một bộ phận người Việt Nam định cư ở nước ngoài, khó khăn cho Nhà nước trong việc quản lý và thực hiện trách nhiệm bảo hộ công dân ở nước ngoài?

Chỉ hơn 6.000 người Việt Nam ở nước ngoài đăng ký giữ quốc tịch

Theo Báo cáo của Bộ Ngoại giao, sau gần năm năm thực hiện, tính đến ngày 31-12-2013, mới có hơn 6.000 người làm thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam. So với tổng số người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam, tỷ lệ đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam được dự báo là rất thấp.

Trong khi đó, thời hạn đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam sẽ kết thúc vào ngày 1-7-2014. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, những người không đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam sẽ đương nhiên mất quốc tịch Việt Nam. Sau này, nếu có nguyện vọng, họ phải làm thủ tục xin trở lại quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật.

Tại phiên họp ngày 4-6 tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIII, Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường cho biết, việc ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 là cần thiết và cấp bách. Mục đích là nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam trong việc lựa chọn đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích và nguyện vọng gắn bó với quê hương, đất nước của họ.

Dự thảo Luật Quốc tịch sửa đổi, bổ sung tiếp tục khẳng định chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta đã được thể chế hóa tại khoản 2 Điều 13 của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008. Theo đó, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam trước ngày Luật có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam và phải đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để giữ quốc tịch Việt Nam.

Tờ trình của Chính phủ đề nghị sửa đổi, bổ sung Điều 13 và sửa đổi Điều 26 của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 liên quan đến việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Trong đó, sửa đổi, bổ sung theo hướng bỏ thời hạn đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều này, đồng thời bổ sung khoản 2a quy định về trình tự, thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam (trên cơ sở luật hóa một số quy định về đăng ký giữ quốc tịch tại Nghị định số 78/2009/NĐ-CP của Chính phủ).

Việc sửa đổi này nhằm không tạo áp lực về thời gian đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam. Đồng thời, bổ sung quy định về trình tự, thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, gắn kết với hướng dẫn cấp hộ chiếu Việt Nam cho người đăng ký giữ quốc tịch có đủ giấy tờ chứng minh có quốc tịch Việt Nam, sẽ bảo đảm tốt hơn lợi ích thiết thực của người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam.

Do việc sửa đổi khoản 2 Điều 13 của Luật Quốc tịch Việt Nam theo hướng không quy định thời hạn đăng ký giữ quốc tịch, nên không còn căn cứ để giữ quy định tại khoản 3 Điều 26 của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008. Theo đó, người không đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam theo khoản 2 Điều 13 của Luật (trong một thời hạn nhất định) sẽ bị mất quốc tịch Việt Nam. Dự thảo Luật chỉnh lý theo hướng bãi bỏ khoản 3 Điều 26 của Luật.

Thời điểm Luật có hiệu lực kể từ ngày công bố, nhằm bảo đảm cho việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam được thực hiện cơ bản liên tục, không bị ngắt quãng.

Nên sửa đổi theo hướng nào?

Theo Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý (ảnh), cơ quan này nhất trí cần sửa đổi quy định về đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam tại khoản 2 Điều 13 và trường hợp mất quốc tịch tại khoản 3 Điều 26 của Luật quốc tịch Việt Nam.

Ủy ban Pháp luật nhận thấy, quy định về đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam nhằm rành mạch hóa tình trạng quốc tịch của một bộ phận người Việt Nam định cư ở nước ngoài, thuận lợi hơn cho Nhà nước trong việc tổ chức để công dân thực hiện các quyền của mình (thí dụ như quyền bầu cử...), thực hiện trách nhiệm bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài. Song nếu không làm rõ được ý nghĩa và lợi ích cụ thể của việc đăng ký giữ quốc tịch, dù kéo dài thời hạn đăng ký giữ quốc tịch thì vẫn khó có thể đạt mục tiêu đề ra. Nếu bãi bỏ hoàn toàn quy định tại khoản 2 Điều 13 và khoản 3 Điều 26 như đề nghị, có thể làm ảnh hưởng đến lợi ích của một bộ phận người Việt Nam định cư ở nước ngoài, khó khăn cho Nhà nước trong việc quản lý và thực hiện trách nhiệm bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài.

Mặt khác, nếu giữ quy định về đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam và bổ sung thủ tục đăng ký như đề nghị của Chính phủ trong dự thảo Luật, tuy đã làm rõ được phần nào giá trị và hậu quả pháp lý của việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam song vẫn chưa khắc phục được hoàn toàn các hạn chế của quy định hiện hành tại khoản 2 Điều 13 của Luật Quốc tịch Việt Nam, bởi vẫn xác định việc đăng ký giữ quốc tịch là một nghĩa vụ (khoản 2 Điều 13 của dự thảo Luật). Thủ tục đăng ký như quy định tại khoản 2a Điều 13 của dự thảo Luật cũng còn nhiều điểm cần được làm rõ hơn để vừa thuận tiện, có lợi cho đồng bào ta, vừa bảo đảm tính pháp lý rõ ràng, nhưng cũng không trùng lặp với quy định về một số thủ tục hành chính sẵn có như thủ tục cấp hộ chiếu, giấy thông hành cho công dân Việt Nam ở nước ngoài, thủ tục đăng ký công dân... phù hợp yêu cầu đơn giản hóa thủ tục hành chính, đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài.

Cơ quan này đề nghị sửa đổi khoản 2 Điều 13 của Luật quốc tịch Việt Nam như sau:

“2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày 1-7- 2009 thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam.

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam mà không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam còn giá trị sử dụng theo quy định tại Điều 11 của Luật này thì đăng ký với Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài để được cấp giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam theo quy định của Chính phủ".

Ủy ban cũng tán thành đề nghị bãi bỏ quy định tại khoản 3 Điều 26 của Luật quốc tịch Việt Nam. Những người đã đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 13 của Luật Quốc tịch Việt Nam từ ngày 1-7-2009 đến nay mà đã được xác nhận là có quốc tịch Việt Nam thì được cấp hộ chiếu Việt Nam nếu họ có yêu cầu.

Bài: NGÂN ANH, ảnh: TRẦN HẢI