Tái cơ cấu ngành chăn nuôi, nâng cao khả năng cạnh tranh (Tiếp theo và hết) (*)

Thứ Ba, 10/09/2019, 02:10:49

Bài 2: Nhiều “nút thắt” cần tháo gỡ

Hơn 5 năm kể từ khi Đề án tái cơ cấu ngành chăn nuôi chính thức được phê duyệt, thực hiện; tuy đã đạt một số thành công nhất định, song trong quá trình triển khai còn nhiều “nút thắt” cần tháo gỡ, nhất là trong bối cảnh dịch tả lợn châu Phi bùng phát gây thiệt hại nặng nề cho người chăn nuôi. Do vậy, phải kịp thời rà soát điều chỉnh những vấn đề mang tính chiến lược để chủ động phòng, chống dịch bệnh, tăng sức cạnh tranh, đưa ngành chăn nuôi phát triển bền vững.

Tái cơ cấu ngành chăn nuôi, nâng cao khả năng cạnh tranh (Tiếp theo và hết) (*)

Dây chuyền pha lóc thịt gà tại Nhà máy chế biến thực phẩm C.P. Việt Nam (KCN Phú Nghĩa, Hà Nội). Ảnh: DUY LINH

Ðối mặt nhiều thách thức

Mặc dù đạt được một số kết quả tích cực ban đầu, song theo các chuyên gia, ngành chăn nuôi nước ta hiện phải đối mặt nhiều thách thức như: Quy hoạch chăn nuôi ở một số nơi vẫn mang tính hình thức, chưa bám sát nội dung và mục tiêu tái cơ cấu. Quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán còn khá cao, chăn nuôi trang trại có xu hướng phát triển nhưng vẫn còn tự phát. Số lượng nông dân tham gia chăn nuôi quy mô nhỏ vẫn lớn, với gần 13 triệu hộ, khiến khả năng áp dụng khoa học - công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm gặp khó khăn.

Không chỉ có vậy, theo Quyền Cục trưởng Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) Nguyễn Xuân Dương, cơ cấu chăn nuôi hiện mất cân đối khi lợn chiếm khoảng 70%, gia cầm khoảng 21%, gia súc ăn cỏ khoảng 9%; trong khi đó ở các nước phát triển, lợn chỉ chiếm từ 20 - 25%, gia cầm khoảng 40% và gia súc ăn cỏ từ 30 - 35%. Năng suất, chất lượng sản phẩm chăn nuôi (SPCN) còn thấp so với nhiều nước trên thế giới; thí dụ năng suất nuôi lợn, gà của Việt Nam chỉ bằng hai phần ba so với Ðan Mạch, Thái-lan, cho nên khó cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại. Chất lượng và công tác quản lý một số giống vật nuôi còn hạn chế.

Phân khúc chế biến và thị trường chưa được chú trọng, thiếu sự kết nối và điều hành tổng thể, việc phân phối - tiêu thụ SPCN còn yếu. Chẳng hạn như việc thương lái đi thu gom mua lợn, tập kết ở một điểm và bán lại cho "lò" giết mổ. Sau đó các "lò" này lại đẩy hàng cho người bán lẻ để họ bán cho người tiêu dùng tại các chợ truyền thống, dân sinh, chợ "cóc". Như vậy, do phải qua nhiều khâu trung gian, cho nên đến người tiêu dùng, giá bán SPCN thường bị đội lên.

Việc Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN và NL) từ các nước khác cũng là một trong những tác nhân khiến giá SPCN cao hơn so với nhiều quốc gia khác. Cơ chế, chính sách chưa đủ sức khuyến khích, tạo động lực cho các thành phần, nhất là doanh nghiệp (DN) tham gia chuỗi SPCN. Số DN "đầu tàu" tham gia vào chăn nuôi còn quá ít. Một số DN chưa thật sự quan tâm và chia sẻ lợi ích với người chăn nuôi khiến mối liên kết chưa bền vững, việc tiêu thụ SPCN còn bấp bênh.

Bên cạnh đó, ảnh hưởng từ dịch bệnh cũng khiến giá trị gia tăng ngành hàng còn thấp, gây khó khăn cho người chăn nuôi và tạo ra tâm lý không muốn tái đàn, thậm chí "treo chuồng" dẫn tới giá cả thị trường biến động. Chưa xây dựng được vùng kiểm dịch an toàn theo các quy định của Tổ chức Thú y thế giới (OIE). Quy trình giết mổ, chế biến, điều kiện bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm SPCN còn nhiều nỗi lo. Các "lò mổ" thủ công, mất vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn tồn tại mà chưa có các biện pháp kiểm soát hữu hiệu. Theo Cục Thú y (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), hiện cả nước có gần 30 nghìn cơ sở giết mổ (CSGM) gia súc, gia cầm; trong đó hơn 800 CSGM tập trung, thì phần lớn các CSGM này không có hệ thống bảo quản mát, pha lọc, cấp đông và kho bảo quản lạnh sản phẩm (chỉ phục vụ giết mổ để bán thịt "nóng" trên thị trường trong nước). Trong khi ở các nước, đây là công đoạn đem lại lợi nhuận cao thì chúng ta vẫn lúng túng.

Việc phân tích, cung cấp thông tin, dự báo tình hình thị trường của các bộ, ngành liên quan còn hạn chế, dẫn đến việc người chăn nuôi không có thông tin chính xác thị trường đang cần gì và trong thời gian bao lâu, cũng như khả năng cung cấp, tiêu thụ nguồn hàng thế nào. Khi thị trường biến động theo chiều hướng không thuận lợi thì họ không biết làm cách nào để tiêu thụ sản phẩm, đành chấp nhận chịu rủi ro. "Cùng với đó, nạn ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi vẫn là bài toán chưa có lời giải. Ðó là chưa kể kinh phí đầu tư xử lý vấn đề này khá lớn, có thể lên đến hàng tỷ đồng, cho nên các trang trại quy mô nhỏ và vừa ít có khả năng làm được, nói gì đến phần lớn người chăn nuôi" - Chi cục trưởng Chăn nuôi và Thú y Hà Nội Nguyễn Ngọc Sơn cho biết thêm.

Một vấn đề nữa là từ tháng 2 đến nay, ngành chăn nuôi gặp nhiều khó khăn do dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) hoành hành. Hiện toàn bộ 63 tỉnh, thành phố trong cả nước xuất hiện dịch, số lợn buộc phải tiêu hủy là gần 4,7 triệu con, gây thiệt hại nghiêm trọng đối với lĩnh vực chăn nuôi lợn nói riêng và ngành chăn nuôi nói chung. Hàng chục nghìn hộ dân nuôi lợn ở các địa phương: Thái Bình, Hưng Yên, Hà Nam, Ðồng Nai..., lâm vào cảnh thua lỗ, nợ nần,… đành nhìn lợn chết vì không có vắc-xin phòng bệnh, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Hàng nghìn tỷ đồng đã được chi ra để phòng, chống dịch và hỗ trợ các hộ chăn nuôi có lợn nhiễm bệnh buộc phải tiêu hủy, song dịch vẫn diễn biến khó lường, trong khi kinh phí ứng phó dịch của nhiều tỉnh đã cạn...

Cần giải pháp quyết liệt, hiệu quả

Ðể ngành chăn nuôi phát triển bền vững, cần tập trung thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp mới mong tháo gỡ được những "nút thắt" nội tại của ngành. Theo đó, cần hoàn thiện quy hoạch chăn nuôi phù hợp nội dung và mục tiêu tái cơ cấu, bảo đảm phát huy lợi thế so sánh của từng địa phương về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường. Ở những vùng có điều kiện phát triển nuôi con khác thì chuyển đổi, không nhất thiết phải chăn nuôi lợn. Theo Quyền Cục trưởng Chăn nuôi Nguyễn Xuân Dương, tới đây sẽ thực hiện chiến lược cơ cấu ngành chăn nuôi theo hướng giảm chăn nuôi lợn, tăng chăn nuôi gia cầm, gia súc ăn cỏ (trâu, bò, dê, hươu, cừu…) theo hình thức trang trại, công nghiệp.

Tiếp tục tái cơ cấu về giống vật nuôi, phương thức chăn nuôi và phát triển chuỗi giá trị ngành hàng với mục tiêu nâng cao chuỗi giá trị thương hiệu đi kèm với chất lượng; tăng cường các biện pháp an toàn sinh học (ATSH) để bảo vệ đàn lợn, nhất là đàn giống lợn cụ kỵ, ông bà, bố mẹ, phục vụ công tác tái đàn sau khi khống chế được DTLCP. Khuyến khích hộ chăn nuôi tiếp tục tham gia chuỗi, bao gồm các nhà cung cấp dịch vụ đầu vào (con giống, thuốc thú y, TĂCN), giết mổ, chế biến và các đơn vị bán lẻ. Sự kết hợp này sẽ giúp hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng tại các khâu trong chuỗi giá trị, tạo ra SPCN "sạch", truy xuất được nguồn gốc và đầu ra. Tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, quy mô lớn theo tín hiệu thị trường, lấy DN làm hạt nhân.

Các bộ, ngành liên quan cần xây dựng bộ phận tập hợp các chuyên gia hiểu biết sâu về sự biến động của thị trường chăn nuôi, dự đoán diễn biến thị trường, xây dựng các kịch bản ứng phó phù hợp khi giá SPCN biến động. Ðồng thời, tuyên truyền để người nông dân trước khi đầu tư mở rộng chăn nuôi biết được sản phẩm làm ra bán thế nào, giá thành bao nhiêu. Có thêm các chính sách hỗ trợ để thu hút sự tham gia của các DN, trang trại lớn, hộ chăn nuôi chuyên nghiệp; tăng cường tập huấn, chuyển giao khoa học - kỹ thuật, tuyên truyền lợi ích chăn nuôi ATSH cho người chăn nuôi.

Bên cạnh đó, sớm xem xét lại quy hoạch phát triển ngành TĂCN, cân đối giữa diện tích trồng lúa và diện tích trồng ngô, nguồn nguyên liệu chính để làm TĂCN. Hướng đến sản xuất theo mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã, cùng lựa chọn DN phù hợp tình hình chăn nuôi ở khu vực để mua chung đơn hàng, tiến tới mua trực tiếp của các nhà máy sản xuất TĂCN để hưởng ưu đãi về giá, không phải qua khâu trung gian, tận dụng nguyên liệu sẵn có để giảm giá thành TĂCN, nâng khả năng cạnh tranh. Tăng cường chế biến sâu để đa dạng hóa sản phẩm, bảo đảm các phân khúc thị trường. Ngoài ra, các địa phương cần rà soát lại hệ thống giết mổ, để từng bước làm tốt khâu chế biến, tạo thói quen cho người chăn nuôi, người giết mổ, chế biến thực phẩm nói không với hóa chất công nghiệp trong SPCN. Kiểm soát tốt dịch bệnh cho gia súc, gia cầm; tăng cường kiểm tra điều kiện vệ sinh thú y tại các cơ sở chăn nuôi, giết mổ, sơ chế sản phẩm động vật và giám sát tồn dư hóa chất, ô nhiễm vi sinh vật trong thịt, trứng, sữa và mật ong. Ðẩy mạnh xuất khẩu thịt gà sang thị trường Nhật Bản; đàm phán với Trung Quốc để xuất khẩu thịt lợn, sữa chính ngạch và ổn định hơn.

Trước những diễn biến phức tạp của DTLCP, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường cho rằng, thực tiễn việc chống dịch thời gian qua cho thấy, trang trại, hộ chăn nuôi nào áp dụng chăn nuôi ATSH đúng cách thì lợn vẫn khỏe, tiêu thụ được. Chia sẻ thêm về vấn đề này, theo Cục trưởng Thú y Phạm Văn Ðông, áp dụng chăn nuôi ATSH là "vũ khí" số một để phòng, chống dịch bệnh trên đàn lợn nói chung và DTLCP nói riêng. Hiện cả nước có 2.502 trang trại chăn nuôi lợn ATSH, với hơn 2,8 triệu con; 683 trang trại chăn nuôi lợn an toàn dịch bệnh, với 800 nghìn con. Ðây là tiền đề tốt để các địa phương nhân rộng chăn nuôi ATSH trong thời gian tới, góp phần bảo đảm chất lượng sản phẩm, đáp ứng được nhu cầu thực phẩm của người dân trong những tháng cuối năm.

Song song với đó, cần xác định rõ đặc trưng, lợi thế của từng vùng đối với chăn nuôi lợn để điều chỉnh, tập trung nguồn lực cho sản xuất; nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm thịt lợn. Ðồng thời tổ chức sản xuất ngành hàng này theo mô hình chuỗi ở một số cấp độ như: Cấp độ 1 là của các DN có sức sản xuất lớn để xuất khẩu, cấp độ vừa và nhỏ để cung ứng cho thị trường trong nước, nhằm góp phần đưa ngành chăn nuôi lợn phát triển phù hợp quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động gắn với chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Tùy vào điều kiện cụ thể từng địa phương, có những phương thức liên kết phù hợp, trên cơ sở bảo đảm cho ngành hàng thịt lợn của Việt Nam được tổ chức sản xuất hiện đại, đủ sức cạnh tranh cao, song không để người chăn nuôi bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển dịch đó. Bên cạnh đó, cần tập trung nguồn lực để ngăn chặn DTLCP, hạn chế thiệt hại đến mức thấp nhất cho ngành chăn nuôi.

Nếu làm tốt những giải pháp nêu trên cùng với Luật Chăn nuôi và các văn bản quy phạm pháp luật dưới Luật có hiệu lực từ năm 2020 sẽ tạo hành lang pháp lý, điều kiện thông thoáng cho các DN, người dân sản xuất chăn nuôi, kinh doanh hiệu quả hơn; cùng sự liên kết chặt chẽ giữa: Nhà nông - Nhà nước - nhà đầu tư - nhà khoa học - nhà phân phối - ngân hàng, ngành chăn nuôi sẽ tiếp tục có điều kiện tăng trưởng, tiến tới phát triển bền vững.

Bài 1: Hiệu quả từ liên kết chuỗi

-----------------------------

(★) Xem Báo Nhân Dân số ra ngày 9-9-2019.

QUANG MINH VÀ HIỀN ANH