Nhập nhèm hàng hóa “đội lốt” hàng Việt Nam

Thứ Hai, 19/08/2019, 16:47:42

Hiện nay, một số mặt hàng dù chỉ trải qua các công đoạn gia công, lắp ráp, chế biến đơn giản tại Việt Nam nhưng cũng gắn nhãn “sản xuất tại Việt Nam” khiến người tiêu dùng (NTD) thắc mắc. Việc thiếu vắng các quy định như một sản phẩm thế nào thì được coi là “sản phẩm của Việt Nam” hay “sản xuất tại Việt Nam” đã khiến nhiều tổ chức, cá nhân lúng túng khi muốn ghi chính xác nước xuất xứ trên nhãn sản phẩm theo quy định của Nghị định 43/2017-NĐ/CP (NĐ 43).

Nhập nhèm hàng hóa “đội lốt” hàng Việt Nam

Thiếu vắng các quy định, doanh nghiệp lúng túng khi muốn ghi chính xác nước xuất xứ trên nhãn sản phẩm. Ảnh: LAM ANH

Tại buổi trao đổi ý kiến với báo chí liên quan đến Dự thảo Thông tư (DTTT) “Made in Vietnam” mới đây, Thứ trưởng Công thương Trần Quốc Khánh cho biết, đến nay, cơ quan chức năng đã ban hành nhiều quy định về xuất xứ hàng hóa, trong đó có việc như thế nào thì một sản phẩm được coi là có xuất xứ Việt Nam. Tuy nhiên, các quy định này mới chỉ áp dụng cho hàng xuất khẩu và hàng NK, giúp hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế NK theo cam kết tại các hiệp định thương mại tự do (FTA) hoặc phục vụ các mục tiêu khác của quản lý ngoại thương. Với hàng hóa sản xuất, bao gồm cả sản xuất từ đầu vào NK và sau đó lưu thông trong nước, hiện chưa có quy định như thế nào thì được gắn nhãn “sản phẩm của Việt Nam” hay “sản xuất tại Việt Nam”. Trong khi đó, việc thiếu vắng các quy định về việc như thế nào thì một sản phẩm được coi là “sản phẩm của Việt Nam” hay “sản xuất tại Việt Nam” đã khiến nhiều tổ chức và cá nhân lúng túng khi muốn ghi chính xác nước xuất xứ trên nhãn sản phẩm theo quy định của Nghị định 43/2017-NĐ/CP (NĐ 43).

Ngược lại, một số mặt hàng dù chỉ trải qua các công đoạn gia công, lắp ráp, chế biến đơn giản tại Việt Nam nhưng cũng gắn nhãn “sản xuất tại Việt Nam” khiến NTD thắc mắc, thậm chí bức xúc nhưng các cơ quan chức năng lại không có căn cứ để phân xử.

Theo ông Trần Quốc Khánh, DTTT quy định về sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam và sản phẩm, hàng hóa sản xuất tại Việt Nam sẽ giúp các tổ chức, cá nhân có căn cứ để thực hiện đúng yêu cầu của NĐ 43, giúp loại bỏ các trường hợp vô tình hay cố tình vi phạm thông tin về nước xuất xứ. Đáng chú ý, với TT này, các doanh nghiệp (DN) làm ăn chân chính sẽ không phải đối diện với nguy cơ cáo buộc “gian lận xuất xứ,” tránh được rủi ro kiện tụng và mất uy tín với người tiêu dùng. Ngoài ra, kết hợp việc thực thi nghiêm túc NĐ 43 tại cửa khẩu, TT sẽ giúp loại bỏ dần tình trạng hàng NK nhập nhèm “đội lốt” hàng Việt Nam. TT này áp dụng cho hàng lưu thông trên thị trường Việt Nam. Vì vậy, về nguyên tắc, TT sẽ áp dụng cho cả hàng NK vào Việt Nam. Nếu hàng NK vào Việt Nam đã có nhãn mác thể hiện xuất xứ không phải xuất xứ Việt Nam thì khi lưu thông trên thị trường, việc ghi nước xuất xứ sẽ được thực hiện theo NĐ 43. TT của Bộ Công thương không điều chỉnh các trường hợp này. Tuy nhiên, nếu hàng NK lại gắn sẵn nhãn mác thể hiện đó là “hàng Việt Nam” thì TT này sẽ được áp dụng. Cơ quan chức năng sẽ có quyền yêu cầu người NK chứng minh đó là hàng Việt Nam trước khi cho phép hàng hóa được thông quan.

Về định nghĩa hàng hóa được phép thể hiện là hàng hóa của Việt Nam, ông Phan Văn Chinh, Cục trưởng Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) đưa ra hai trường hợp, bao gồm hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam theo quy định tại Điều 8 của TT; hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam nhưng trải qua công đoạn gia công, chế biến cuối cùng tại Việt Nam làm thay đổi cơ bản tính chất của hàng hóa theo quy định tại Điều 9 của TT.

Ông Phan Văn Chinh cũng khẳng định, tổ chức, cá nhân chỉ được phép lựa chọn một trong các cách quy định tại khoản 2 Điều 4 để thể hiện hàng hóa là hàng hóa của Việt Nam. Tức là, chỉ có thể lựa chọn cụm từ phù hợp nhất với quy trình sản xuất, gia công, chế biến của họ. Theo kinh nghiệm chung trên thế giới thì các sản phẩm có xuất xứ thuần túy thường dùng cụm từ “Sản phẩm của...” mà không dùng các cụm từ như “Chế tạo tại... “ hay “Sản xuất tại...”.

Liên quan việc hàng hóa tạm nhập tái xuất, hàng hóa chuyển khẩu, quá cảnh Việt Nam không được phép thể hiện là hàng hóa của Việt Nam trên nhãn hàng hóa hoặc trên bất kỳ tài liệu, vật phẩm nào chứa đựng thông tin liên quan hàng hóa đó, ông Phan Văn Chinh nêu rõ, đây là quy định để phòng tránh gian lận thương mại, trong đó có gian lận xuất xứ, gây ảnh hưởng xấu tới hàng hóa Việt Nam. Theo đó, cơ quan chức năng sẽ có thêm cơ sở để đấu tranh phòng, chống gian lận thương mại. Trong Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) và các FTA khác, hàm lượng giá trị gia tăng được gọi “hàm lượng giá trị khu vực” - (RVC). Tên gọi này đã thể hiện tính chất “khu vực” của quy tắc xuất xứ, tức là cho phép cộng gộp xuất xứ của các nước thành viên. Thí dụ, với RVC 40% trong ASEAN thì một sản phẩm có 20% giá trị của Thái-lan, 10% của Philippines, 5% của Lào và 5% của Việt Nam sẽ được coi là đạt tiêu chí xuất xứ ASEAN và được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ Mẫu D. Song TT này quy định chặt hơn, cụ thể, tỷ lệ giá trị gia tăng 30% nêu tại TT là chỉ tính riêng giá trị của Việt Nam.

Thứ trưởng Trần Quốc Khánh cho biết thêm, kể từ ngày TT có hiệu lực thi hành, việc thể hiện nội dung hàng hóa của Việt Nam trên nhãn hàng hóa hoặc trên tài liệu, vật phẩm chứa đựng thông tin liên quan hàng hóa phải tuân thủ các quy định của TT và không có ngoại lệ. TT sẽ không làm phát sinh thêm chi phí cho DN bởi ghi nhãn hàng hóa và công bố nước xuất xứ trên nhãn hàng hóa đã từ lâu là yêu cầu bắt buộc theo quy định của NĐ 43.

QUỐC BÌNH