Đằm thắm điệu chèo tàu

Thứ Năm, 23/06/2016, 15:18:58
 Font Size:     |        Print
 

Nghệ nhân Ngô Thị Thu trong lễ vinh danh Nghệ nhân Ưu tú.

Có nằm mơ cũng không bao giờ nghĩ có ngày mình được trao tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú (NNƯT). Bà nông dân chân lấm tay bùn Ngô Thị Thu ở xã Tân Hội (huyện Đan Phượng) thường bảo thế. Những ai từng biết quá trình hoạt động của bà mới thấy danh hiệu NNƯT thật xứng đáng. Bà đã âm thầm, bền bỉ dành mấy chục năm bảo vệ loại hình di sản độc đáo này.

Bà Ngô Thị Thu tất tả gói ghém công việc đồng áng của vụ chiêm vừa gặt để chuẩn bị giờ lên lớp dạy hát chèo tàu. Thoáng chốc, người ta không còn nhận ra bà nông dân quen thuộc. Bà luyến láy những câu ca, bà chỉ dẫn từng động tác múa cho các học viên trẻ tuổi. Người Tân Hội còn bảo nhau, lúc lên sân khấu biểu diễn, bà Thu chẳng khác nào một diễn viên chuyên nghiệp. Những lúc được khen như thế, bà Thu chỉ tủm tỉm cười. Nào ai biết, những ngậm ngùi phía sau câu hát hội…

Chuyện chèo tàu ở Tân Hội dài lắm. Truyền rằng, khi nhà Minh xâm lược nước ta, vùng đất này có vị tướng tên là Văn Dĩ Thành dấy quân khởi nghĩa. Tuy thất bại, nhưng nhân dân vẫn ghi nhớ công lao của ngài. Người dân đã mở hội hát chèo tàu để tưởng nhớ. Gọi là chèo tàu, bởi khi diễn xướng, những diễn viên quần chúng sẽ đứng trên con thuyền (tàu), trên voi (tượng) để thể hiện những làn điệu cổ. Người ta gọi là hát tàu tượng, hay chèo tàu (khi diễn xướng có động tác chèo thuyền, tương truyền mô phỏng hành động chèo thuyền chở quân đánh giặc). Chèo tàu mang âm hưởng của dân ca vùng Bắc Bộ. Nhưng những đặc điểm nêu trên khiến chèo tàu chỉ duy nhất tồn tại ở Tân Hội. Tất cả các bài ca đều gắn với cuộc khởi nghĩa của Tướng Văn Dĩ Thành. Xưa, hội hát này huy động tới 200 diễn viên quần chúng và 25 năm mới diễn xướng một lần. Tổ chức một hội hát như xưa phải mất cả năm trời chuẩn bị, bốn làng của xã Tân Hội phải phân nhau mỗi làng một phần việc. Khi cô bé Thu ra đời, thì hội hát chèo Tàu ở Tân Hội đã không còn. Năm 1922 là lần cuối người Tân Hội tổ chức hội hát chèo tàu. Chiến tranh, loạn lạc khiến người dân Tân Hội đành chia tay hội hát nổi tiếng bảy ngày, bảy đêm… Song những người bà, người mẹ Tân Hội ru con bằng những câu ca họ còn nhớ được thuở thiếu thời khi đi hát ở đám hội. Hội chèo Tàu không còn, nhưng những câu hát vẫn như mạch ngầm âm ỉ. Được nuôi dưỡng bằng những câu hát như thế, cô bé Thu mê đắm chèo tàu. Trưởng thành, chỉ là một người nông dân bình dị, song, những câu chuyện các cụ cao niên kể về hội hát chèo tàu xưa kia cứ thôi thúc bà. Cũng có một thời, tỉnh Hà Tây (cũ) cử một nhạc sĩ về khôi phục chèo tàu, nhưng khi khôi phục thì mọi người thấy nó… mới quá, không giống như những gì các cụ truyền lại. Tiếng được khôi phục mà thấy rầu lòng. Bà Thu đi tìm gặp các cụ cao niên từng biết đến chèo tàu thuở xưa để gom nhặt những câu hát. Những cụ từng vào vai quản tượng, chúa tàu, cái tàu (những nhân vật chính trong hội hát) đều đã mất hoặc không tìm được, chỉ tìm được những vai phụ, hoặc những cụ “nghe lỏm” được và nhớ lại câu hát. Mỗi cụ chỉ nhớ được một vài bài, có khi chỉ một vài đoạn. Chèo tàu có đến ba loại: hát trình (hát thờ trước thánh), hát trạo (khi chèo thuyền) và hát giao duyên, cho nên việc sưu tầm lại rất tốn công. Lại còn cách hát, cung cách diễn xướng... Cũng may, Tân Hội có những “trí thức làng” tận tụy. Theo điển cũ, tất cả người tham gia hát chèo tàu phải là nữ giới. Lệ xưa vẫn giữ, nhưng nhiều nam giới như các ông Nguyễn Hữu Yến, Đông Sinh Nhật… tích cực sưu tầm câu hát, tìm lại phong tục cổ để hỗ trợ công việc của những phụ nữ như bà Thu.

Gom dần những “mảnh vỡ” của chèo tàu, rồi bàn bạc với những người tâm huyết chắp, ghép lại. Lâu quá không còn hội hát, cho nên nhiều người ngại tham gia. Ban đầu chỉ toàn người đứng tuổi. Bà Thu và những người trong Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ Chèo tàu bảo nhau, nếu toàn người đứng tuổi thế này thì… hỏng. Hội hát xưa phải chỉ có “chúa tàu” là người có tuổi. Còn lại toàn những thanh nữ từ 13 đến 16 tuổi. Bọn trẻ bây giờ có nhiều niềm vui, nhiều đam mê hiện đại khác. Phải đi từng nhà vận động bố mẹ các cháu. Phải trò chuyện để truyền lửa đam mê…

Chỉ tính từ ngày Câu lạc bộ Chèo tàu Tân Hội được thành lập đến nay, cũng đã gần 20 năm. Chưa kể quãng thời gian đằng đẵng chuẩn bị. Bà Thu tham gia không sót một hoạt động nào. Bà Ngô Thị Thu chưa từng nghĩ đến cái gì cao xa. Bà đơn giản chỉ nghĩ, mình yêu những điệu hát chèo tàu, yêu quê hương mà tâm huyết cùng mọi người góp lòng khôi phục. Khi câu lạc bộ đã hình thành, bà tích cực đem những trích đoạn trong chèo tàu đi đến các hội diễn văn nghệ. Chèo tàu dần được giới nghiên cứu chú ý. Nhiều người về Tân Hội khảo sát. Có nhà nghiên cứu ban đầu định ghép nó vào thể loại… hát chèo. Nhưng tìm hiểu mới thấy chèo tàu có nhiều điểm khác biệt so với hát chèo, cũng như các loại hình dân ca khác, phải chấp nhận định danh cho nó một tên riêng: chèo tàu. Cuộc sống luôn công bằng. Những nỗ lực không biết mệt mỏi của người dân Tân Hội đã khiến loại hình chèo tàu khẳng định. Người phụ nữ chân lấm tay bùn Ngô Thị Thu – kho tư liệu sống về chèo tàu đã được vinh danh là NNƯT. Bây giờ đã là Chủ nhiệm Câu lạc bộ Chèo tàu Tân Hội, trách nhiệm với bà càng nặng nề hơn, trong đó, quan trọng nhất là truyền tình yêu, dạy dỗ cho lớp trẻ để có lứa kế cận. Bà vẫn thầm ước một ngày nào đó, có thể tái hiện lại quy mô, không gian đúng như hội xưa…

GIANG NAM