Gió thổi từ miền ký ức

Thứ Năm, 31/01/2019, 14:53:33
 Font Size:     |        Print
 

Đà Lạt mờ sương.

Không chỉ là lữ khách, tôi đến đây và ở lại nơi này. Năm tháng mới xảy ra gần thôi nhưng đi qua rồi vẫn giăng mắc một nỗi hoài nhớ. Không biết tự lúc nào tôi đã trộn lẫn đôi dòng kỷ niệm của cá nhân mình vào dòng chảy ký ức thành phố. Cũng phải thôi, vì bản thân đã tự nguyện làm kẻ vô danh dự phần vào lịch sử của đô thị này.

Duyên nợ giữa tôi với Đà Lạt bắt đầu từ chuyến xe đò gần ba thập niên trước. Khởi hành chiều muộn từ Sài Gòn, quá nửa đêm xe mới ì ạch lên đèo Prenn. Hết đèo, vùng ánh sáng của đô thị tràn dài thung lũng đầy những cánh rừng thông mở ra cho tôi một khoảng không gian lạ lẫm. Cây lá trầm mặc trong màn sương ảo ảnh. Những ngôi nhà cũ kỹ nép vào nhau như nương tìm sự chở che bên những triền đồi buốt giá. Tôi choàng tỉnh trong một cảm giác mới mẻ. Từ phút giây đó, tôi đã nghĩ mình sẽ là một phần nhỏ nhoi của thành phố này, cùng thức ngủ, buồn vui với xứ sở. Ký ức tôi dù chỉ như chiếc lá thông mỏng mảnh vẫn là một thực thể trong không gian ký ức của đô thị. Tôi lặng lẽ thuộc về nơi này và hình như hơi thở của đất đai, nước mây, gió mưa, đồi núi cũng đã thuộc về tôi...

Những địa tầng quá vãng của đô thị cũng xuất lộ dần trong khao khát khám phá. Với Đà Lạt thân thương, tôi không muốn đặt lên đó những dấu mốc để suy nghiệm; không muốn đắp những cái đập chắn ngang lưu thủy để so bì nông, sâu. Tôi không muốn khảo luận để phân kỳ lịch sử và đối chiếu những tiến trình. Tôi cảm nhận một dòng chảy xuyên suốt, róc rách với thời gian. Tôi nhớ nơi này từ những hoài tưởng ngàn xưa, thời ánh trăng rừng lạc giữa miền hoang lạnh. Tiếng thì thầm những ngôn ngữ huyền bí của muôn loài giữa rừng già vô chủ. Tôi nhớ nơi này bởi tiếng hú vọng giữa đại ngàn của những cư dân bản địa tâm tính tinh khôi như một phần của thiên nhiên mộng mị, những thực thể tồn sinh theo lý lẽ của rừng. Cái nơi chốn lạ lẫm và chứa đầy bí mật mà những bậc thức giả từ vài ba thế kỷ trước như Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Dương Văn An đã đưa vào trước tác những khảo luận mơ hồ. Lịch sử đô thị cũng không quên Paul Doumer, Jean Decoux. Hồn phách những vị quan Toàn quyền xứ Đông Dương đã hòa trong đất sâu Paris nhưng dấu ấn tham vọng về một “đỉnh cao đế quốc” thì khó phai nơi đô thị cao nguyên này.

Sống giữa nơi chốn nhuốm màu hoài niệm, nhiều khi bất chợt rưng rưng trước những rêu phong. Một dinh thự hoang phế vẫn ánh lên vàng son quá khứ. Một bức tường đá cũ nham nhở. Một ngõ dài hun hút hồng leo. Một rặng thông già mốc thân thách thức. Một hồi chuông giáo đường ngân tiếng gọi lời Chúa. Một giọng cầu kinh văng vẳng chốn Phật từ bi. Cả lời rao hủ tiếu, bánh bèo, xôi khúc trong khuya cũng như vọng về từ cõi xa xăm. Ký ức đô thị miên viễn tự kể với chính mình. Hồn phố neo đậu trong hồn cư dân phố. Tôi là thực thể của đô thị này, và tôi cũng vậy. Có những lúc mủi lòng với những thời đã qua, những người đã xa, những biến động triều chính, những mảnh vỡ lịch sử. Người Pháp thực dân đã trở về với quê nhà của họ từ rất lâu rồi. Hoàng Đế cuối cùng triều Nguyễn tha phương lưu lạc rồi gửi thân xác tàn rũ xứ người. Gia tộc họ Ngô quyền uy cũng đã trở thành bóng ma lịch sử. Sông máu núi xương chất chồng, tất cả tan vào hư vô. Trâm anh thế phiệt và lam lũ bần hàn. Lâu đài tráng lệ và những túp lều cỏ. Sang hèn gì thì cũng đã về với nẻo xa mịt mù...



Rực rỡ sắc hoa Đà Lạt.

Tôi hoài nhớ nơi chốn này bởi những ghi chép tả thực của Nam tước đại thần Đoàn Đình Duyệt, từ nhật ký thám hiểm của nhà bác học A.Yersin. Tôi cũng nhớ những mô tả dấu chân dã thú của bà G.M.Vassal trong du ký Ba năm ở Annam khi lần đầu tiên nhà du hành này leo núi lội rừng từ bờ vịnh Nha Trang lên cao nguyên miền Thượng. Có đôi lúc thẫn thờ đi tìm những mảnh ký ức đô thị như đi tìm chính những mảnh rời trong tâm hồn mình. Nơi nào Cựu hoàng Bảo Đại từng trao Bảo quốc Huân chương cho những nông phu xứ bắc vào đây mở nghề canh nông? Nơi nào đại tướng Võ Nguyên Giáp đồng chủ trì Hội nghị Trù bị Fontainebleau để lo cho nền độc lập dân tộc? Nơi nào thi nhân Hàn Mặc Tử ôm trái tim rớm lệ co ro bên hồ lạnh lẽo để viết thi phẩm Đà Lạt trăng mờ? Nơi nào nhà văn Nhất Linh thổi khúc nhạc tiêu chờ thời và Trịnh Công Sơn cùng Khánh Ly lên đồi uốn những nốt đầu tiên trong di sản âm nhạc thăm thẳm thời gian?...

Tôi đi tìm bóng hình của những người lừng lẫy, rồi lại đi tìm dấu chân của bao người vô danh. Những người không ai quen mặt nhớ tên đã làm nên ký ức nền của thành phố. Họ là dấu lặng, nốt trầm trong bản giao hưởng đa thanh của xứ sở từng trải qua lắm thăng trầm biến vi. Có những hoàng hôn dần buông, tôi thả ánh mắt về dãy núi mờ xa. Phía cuối chân núi ấy là những buôn làng. Những tộc người thiểu số đã an lành giữa chốn thiên nhiên, nhưng tôi biết, họ nhớ lắm nơi này. Thỉnh thoảng đâu đó, tôi lại gặp đôi ba dáng hình lưng còng gùi nặng đứng lặng ngắm mặt hồ Xuân Hương như muốn soi về ký ức của dòng suối Lat, nơi ngày xưa cha ông họ chôn rau cắt rốn. Tôi cũng đã dẫm lên dấu chân những nông phu đầu tiên từ miền xa được quan quân tuyển mộ đến đây. Buổi đầu bơ vơ giữa đất trời lạnh giá để rồi không lâu sau đã trở thành chủ nhân của xóm làng, vườn tược, chợ búa, phố xá. Tôi vẫn thường lang thang vào những hẻm vắng và lặng ngắm những ngôi nhà cũ để thả hồn cho trí tưởng tượng. Những ngôi nhà từng ấm áp qua bao thế hệ với bếp củi thơm mùi gỗ ngo, siêu trà sôi tí tách, cha đọc sách, mẹ đan len, chị gái chơi đàn, em trai giỡn quả thông khô. Họ là những con người cất lên tiếng nói và hành vi ứng xử giao hòa thân thiết với nhau, gần gữi với tháng gió năm sương. Bước chân tha hương nặng tình cố xứ, cảm thức lưu dân nơi đất lạ xứ xa đã tạo nên những nét tính cách khác biệt. Đó là một phần vô cùng đáng yêu của đô thị nơi tôi đang sống...


Không chỉ là lữ khách, tôi đến đây, đã ở lại nơi này. Năm tháng mới xảy ra gần thôi nhưng qua rồi vẫn giăng mắc trong lòng một nỗi hoài nhớ. Nỗi nhớ, trên xứ sở này, đôi khi hiện hữu rõ ràng, đôi khi mơ hồ như ảo giác. Ai đã cùng tôi run run nhìn một giọt sương mai tan dần trên lá cỏ. Ai đã cùng tôi ngắm một nụ hoa không biết tên vươn lên từ thảm lá thông rụng mục dày. Ai đã cùng tôi lặng trước rặng quỳ vàng rạo rực bên triền núi lạ. Đôi khi vẳng từ căn nhà gỗ lưng chừng triền dốc tiếng dương cầm thánh thót gợi mỹ cảm sang trọng và xao xác buồn. Những tòa tháp chuông vươn lên bầu trời, những chiếc lá thông nhọn tụ thành những tán cây hình kim. Ở xứ sở này, ngay cả tiếng chuông từ nơi dưỡng tâm hình như khởi sinh đã hướng thượng. Âm thanh hoang liêu của chốn linh nghiệm hòa trong sắc màu thiên nhiên tạo nên điệu hoàn vũ thiện lành...

Cuộc vật đổi sao dời chóng vánh. Chỉ mới gần ba thập niên thôi mà tôi đã phải nhớ về Đà Lạt những ngày đầu đặt chân tới như nhớ về một miền ký ức. Nỗi nhớ của tôi quay về với những bữa tiệc sương tràn trề. Sương giăng mờ thung lũng trước ngõ nhà tôi. Sương đọng trên mái tóc học trò. Sương phủ lên rừng thông, ẩm ướt mái nhà ngái ngủ. Cái lạnh thì tái tê. Trước ly cà-phê nóng mỗi sáng, chúng tôi đan tay vào trong bít tất len mà khớp xương buốt nhức. Thời đó, Đà Lạt chưa phải là vùng có nhiều dự án, chưa đào núi, ủi đồi, chặt cây, lấp hồ. Đà Lạt hồi đó nhiều xanh, bởi chưa bị bọc bởi nhà kính, nhà lưới. Đà Lạt hồi đó lưa thưa bởi công trình xây dựng chưa mọc lên điệp trùng như bây giờ. Đà Lạt hồi đó những cánh rừng nguyên sinh len cả vào nội ô, nơi nào cũng có cây và thảm cỏ. Tuyền Lâm vẫn là hồ nước long lanh trầm mặc không có tiếng động cơ. Rừng đêm tĩnh mịch, tiếng chuông thiền viện lan qua khói sóng rồi tan vào hư vô. Ký ức của tôi là những buổi sáng đường phố Đà Lạt lưa thưa bóng người. Phành phạch đôi chuyến xe Lambro chở rau, hoa ra chợ. Trễ nải những vòng quay xe đạp. Thành phố nhỏ, dáng dắt xe đạp leo dốc mỗi ngày dù người lạ cũng quen...

Không biết tự lúc nào tôi đã trộn lẫn đôi dòng kỷ niệm của cá nhân mình vào dòng chảy ký ức thành phố. Cũng phải thôi, vì bản thân đã tự nguyện làm kẻ vô danh dự phần vào lịch sử của đô thị này. Là một thực thể nhỏ nhoi nhưng tôi được cùng vui buồn, sướng khổ, cùng chia gió, sẻ mưa với mọi nhịp điệu đời sống của Đà Lạt thân thương.



UÔNG THÁI BIỂU