Hoa đào biên ải

Thứ Bảy, 23/03/2019, 06:18:14
 Font Size:     |        Print
 

Trên này chỉ hai mùa. Mùa mưa trời đất xầm xì không ngớt. Mùa còn lại, sương mịt mùng từ sáng đến tối, ẩm sâu hơn cả mưa. Tháng một lần, anh em trên đồn sẽ lên đây ăn chung bữa cơm. Bà con đồng bào, giáo viên, cán bộ ghé chợ chơi, gặp bữa đều ăn cùng. Nhìn chị, biết ngay lên đây lần đầu”. Một chiến sĩ trên trạm biên phòng vùng biên giới giải thích khi thấy tôi lúng túng kéo khăn trùm kín đầu. Tôi nhìn quanh, ngồi cùng với bộ đội có vài cô giáo, cán bộ văn hóa trẻ. “Cách nhau chỉ vài chục cây số nhưng xuống đến đồn và bản, khí hậu dễ thở hơn”, một cô gái quay sang nói nhỏ với tôi.

Gần trưa bếp được nhóm lên, sương mỗi lúc thêm mờ mịt. Mọi người đều ngồi trên những chiếc ghế gỗ con con. Khung cảnh khiến tôi liên tưởng tới ngày ở quê vẫn quây quần vừa thổi lửa nấu cơm, vừa vùi khoai sắn hay nhặt từng hạt thóc nổ lép bép thành bỏng trắng tựa hoa ngâu. “Rửa thêm tí rau thơm đi”, “Nấm chừng này chưa đủ”, “Tiện tay nướng luôn vài quả ớt, nhớ để lại chút ớt tươi”… Ðến giờ khắc ấy, tôi cam đoan rằng mình chưa từng dự một bếp ăn nào nồng nã, sinh động thế. Có cá, gà, vô số rau củ quả, đến những quả ớt bóng bẩy nửa xanh nửa đỏ cũng được chế biến nhiều cách: Quả nướng trên than hồng, quả cắt xéo thả mắm nguyên chất, quả dầm nát quyện muối trắng, tiêu đen... Hóa ra, dù ta ở thôn quê, thành thị hay lên vùng biên ải, để chạm vào nỗi ấm nồng, chỉ cần tìm căn bếp.

“Tôi nghĩ, chúng ta từng gặp nhau, hơn mười năm trước…”. Ðồn trưởng Dũng không nhìn tôi, chỉ khẽ cười, thận trọng rót nước mời khách. Thái độ lịch thiệp như cố giữ sự ý nhị, để tôi không cảm thấy hụt hẫng hay tự ái. Có lẽ, anh nghĩ không thể nào. Chúng tôi mới chỉ gặp nhau cách đó ít giờ đồng hồ, trong tình huống thật oái oăm. Giữa đêm, trên rẻo đường rừng cách đồn biên phòng vùng cực Tây Tổ quốc hơn ba mươi cây số, anh và các chiến sĩ phải kéo tôi lên từ thảm cây bụi dọc miệng vực.

“Người của đồn đón chị tại điểm Pắc Ma tên là Chớ, số điện thoại…”, nội dung tin nhắn anh Dũng gửi tôi trước đó. Chở tôi đến là đồng chí giảng viên một trường đại học trong quân đội đang thực tế tại đồn vùng biên. Hơn trăm cây số đường rừng, lúc những nhóm người lạ rú ga sát sạt hỏi han trêu ghẹo, khi lại có người ngỏ ý chở giúp nữ nhà báo đến điểm bên kia để “chú bộ đội quay về đồn nghỉ cho khỏe”. Bộ đội tươi cười cảm ơn, bắt tay hồ hởi, nhưng vẫn tiếp tục nhiệm vụ. Ðiểm gặp là quán tạp hóa nhỏ trưng biển viết tay “có sim thẻ”. “Chị đi tiếp nhé, cần bất cứ sự giúp đỡ nào hãy gọi chúng tôi”, người chở tôi chặng trước chào hỏi người chặng sau rồi ra về.

“Chị lên xe đi”. Người tài xế mới ăn vận như dân thường, tôi lại ngồi sau chiếc xe máy, lỉnh kỉnh đồ đạc. Ðúng đêm rằm, ánh trăng hòa vào sương như tráng một lớp mỡ gà loang loáng khắp cành lá, cỏ cây ven đường. Chúng tôi như đi trên một sợi chỉ mỏng manh lắt léo, liên tục cua tay áo, bên này là vực sâu, bên kia đá dựng. Lâu lâu, một vài chuyến xe đêm vụt qua, rọi đèn rú còi inh ỏi. “Ðường vắng quá!”, “Các đồng chí thật vất vả!”, tôi mở lời bắt chuyện. Ðáp lại, chỉ tiếng gió và ánh trăng lòe nhòe sau vai.

Ðịa bàn này cách đây chưa lâu xảy ra vụ án kinh hoàng. Một cán bộ nhận tiền lương cho cơ quan, mang đi phân phát, bị kẻ xấu theo dõi, truy sát hòng cướp của. Người ấy bỏ lại chiếc túi, nhảy xuống vực sâu trăm mét, chấp nhận hứng trọn cái chết, vậy mà những kẻ xấu lao xuống, ra tay tàn độc cho chết hẳn. Câu chuyện quẩn vào ý nghĩ tôi lúc chiếc xe tay côn khật khừ băng hết con dốc này đến khúc cua kia trong im lặng. Ở nơi heo hút, chuyện gì cũng có thể xảy ra. Dưới vực sâu, còn muôn vực sâu khác. Tôi rút điện thoại gọi vào số điện của người đón mình mà chỉ huy đồn cung cấp. “Thuê bao quý khách vừa gọi tạm thời không liên lạc được…”.

Xe đang chạy bỗng khựng lại. “Xe làm sao thế, đồng chí?”. Hỏi ba lần, tôi không nhận được gì ngoài sự im lặng. Người chở tôi chậm rãi tháo mũ bảo hiểm, dựng chân chống xe, quay lại đối thoại bằng một nụ cười và ánh mắt không thể nào cắt nghĩa. “Anh định làm gì? Tôi sẽ gọi điện về chỉ huy đơn vị!”. Giọng tôi, một mệnh lệnh yếu ớt, nói xong tự vẳng lại tai mình. “Chị gọi thoải mái, đồn cách đây hơn ba mươi cây số!”. Bóng đêm khỏa lấp mọi ý nghĩ, tôi bỏ chạy thục mạng.

“Số điện thoại đồng chí cung cấp không liên lạc được. Nhiều khả năng tôi đã nhận nhầm người của đồn”. Tôi vừa chạy, gọi điện, bấm đèn pin điện thoại soi vẫn một bên vách đá, một bên vực sâu. Ðỉnh điểm hoang mang, thấy toàn thân nặng như đeo đá, tôi bỏ chiếc áo khoác trên đường, vừa trượt xuống phía vực, vừa cố sức bám mình vào cây bụi. Tin nhắn cuối cùng gửi đến anh Dũng, tôi nhắc về dấu mốc là chiếc áo.

Tiếng muông thú, côn trùng quyện đặc, khi hun hút, lúc cận kề. Rừng đêm không yên tĩnh như tôi vốn nghĩ. Nước mắt trượt trên má tôi nóng hổi. Nhờ nó, tôi biết mình đang sống, đang sợ bất cứ âm thanh nào khác ngoài tiếng động của rừng già. Tiếng động cơ xe máy chợt ù ì, ban đầu cách xa sau sát mặt đường nơi tôi vừa nhảy xuống.

“Chị ơi!”. Giọng người ban nãy. “Chị ra đây, nếu không tôi bỏ hết đồ đạc của chị”… Ðèn xe máy bật sáng, quét khắp lượt tìm người. Ý nghĩ tôi lại hiện lên câu chuyện về người đàn ông xấu số nhảy xuống vực vẫn bị truy sát. Lúc sau, không gian yên tĩnh trở lại, đèn xe tắt hồi lâu, không còn tiếng gọi. Mở điện thoại, rất nhiều cuộc gọi nhỡ từ đồn biên phòng kèm tin nhắn gửi tôi: “Chúng tôi đang trên đường đi đón chị, hãy cố chờ và an tâm, tin tưởng”.

Hồi lâu, luồng sáng rọi khắp, còi ô-tô gấp gáp. Bộ đội gọi tên tôi. Tim tôi như vỡ ra, ấm nóng. Càng cố bám cây bụi ngoi lên, tôi càng trượt sâu. Những bàn tay rắn chắc kịp thời kéo đỡ tôi. Mở mắt ra, nước mắt khô căng má, mặt trăng chênh chếch chiếu qua cửa kính giúp tôi nhìn rõ mầu áo xanh, những ngôi sao lấp lánh trên vai những người lính.

“Ðồng chí ấy là đại úy, người dân tộc Mông, từ sáng đã xung phong đi đón chị. Xe chết máy giữa đường vì đồng chí không quen xe, mượn xe đẹp thể hiện lòng mến khách. Lại thêm khấp khởi, hồi hộp lên đường đến quên điện thoại, để ở đơn vị hết sạch pin”, có giọng nói giải thích, trấn an tôi.

“Hỏi ra, lúc xe chết máy, chị nói gì nhanh quá đồng chí chưa kịp hiểu, đành cười trừ. Chị bảo gọi về đồn, cậu ta lại nghĩ chị gọi báo cáo tình hình nên động viên gọi thoải mái, nhà báo nóng cái bụng cũng chẳng cách nào về nhanh hơn”; “Áo khoác của chị cậu Chớ gửi lại chúng tôi. Lúc quay lại tìm người, cậu ấy vừa gọi chị vừa phủi sạch bụi. Không thuyết phục nổi đành báo cáo, bàn giao lại sự việc để chúng tôi giải quyết và về đồn trước rồi”. Những giọng nói ấm áp khác cất lên. Bấy giờ, tôi mới đủ tỉnh táo nhận ra cơ thể mình đang ấm dần lên, sưởi ấm tôi là mầu xanh áo lính.

Nửa đêm, xe tới đồn biên phòng. Tôi được hướng dẫn đến phòng thay đồ, tắm gội trước khi xuống nhà ăn. Những mâm cơm đón khách vẫn còn nguyên được nhà bếp làm nóng lại. Những người mặc quân phục xanh nghiêm ngắn đón chào khách bằng nụ cười thú vị. Nhưng ở một góc căn phòng, tấm lưng gầy im như tượng khiến ánh mắt tôi khựng lại. Ðó là người vừa đón hụt tôi. Ai cũng tránh khoảnh khắc ấy, chưa vội nói chuyện với đồng đội sau tình huống oái oăm. Tôi đề nghị được chuyện trò, xin lỗi chàng lính trẻ. Ngước nhìn ánh mắt đọng nước của tôi với lời xin lỗi chân thành, Chớ nở nụ cười xuê xoa, tay đưa gãi gãi mái đầu lướt mướt sương khuya, bụi bặm: “Toàn anh em ta cả mà!”. Ðêm ấy, cả đồn thao thức. Bước ra khỏi phòng, tôi ngỡ ngàng vì sương ùa vào cửa, mặt trăng trên cao như chiếc lồng đèn trong suốt, sáng bừng. Qua một đêm đầy nỗi bi hài, sáng mai, tôi được đồn biên phòng mời lên thăm trạm biên giới.

“Ðúng là chúng ta từng gặp nhau!”. Anh Dũng giọng bối rối vồi vội như sợ không nói ngay tôi sẽ tự ái. Ngày ấy, anh đã trong quân ngũ, chưa lập gia đình, chưa lên biên giới. Cô bạn thân của tôi và Hạnh có ý mai mối nàng cho bạn của anh trai mình là anh Dũng. Sau những nghi thức chào hỏi, nhắn gửi xã giao, anh mời nàng tới nhà chơi. Hạnh không đi một mình, rủ thêm tôi - cái đuôi tíu tít. Buổi ấy, Hà Nội ẩm nồm gần bằng hôm trên trạm. Người lính độc thân nhờ chúng tôi đi chợ làm cơm, tự nhiên như cách giao việc cho mấy cô em gái. Căn hộ tập thể nhỏ của anh dăm bảy người quây quần, chủ yếu toàn sinh viên, công chức xuất thân tỉnh lẻ. Nhưng sau đận ấy, hai nửa được ghép đôi không liên lạc lại với nhau, chẳng hiểu lý do gì. Chúng tôi tuyệt nhiên quên bẵng câu chuyện suốt mười năm sau đó. Giữa cuộc sống phố thị đủ buồn vui hờn tủi, tôi và cô bạn thuở nào vẫn gặp nhau, cảm giác như ruột thịt. Hơn mười năm tưởng chừng không đọng lại điều gì, bỗng ký ức kéo một vệt sáng vạch vào hai con người hiện tại. Một nửa suýt ghép đôi cho bạn tôi giờ đã có gia đình hạnh phúc. Vợ giáo viên dưới xuôi, chồng bộ đội miền ngược. Chúng tôi không tin nổi sẽ gặp lại nhau giữa miền biên ải...

Trong bếp, ngoại trừ tôi, bốn cô gái còn lại đều chưa chồng. Má căng, môi thắm, mắt nồng. Hai cô từ xuôi lên công tác, hai cô ở tỉnh bên về. Họ đều là những cô em gái anh Dũng nhắc tới, thiếu vài cô nữa nay không lên chợ chơi. Tôi là cái cớ để anh ríu ran chuyện về Hà Nội ngày ấy, bây giờ. Chuyện có thêm người vợ hiền, hai đứa con nhỏ lâu lâu chưa thấy bố về nhà. Bỗng tôi chờn chợn. Bốn cặp mắt ướt buồn len lén nhìn mình. Chúng tôi đủ nhạy cảm nhận ra chuyện riêng cần dừng lại. Ở rẻo đất biên cương này, bộ đội không chỉ thuộc về một thứ tình riêng hay một gia đình nhỏ bé.

Biên ải sáng rét căm căm, mười giờ sương tan thì nắng bừng, có mặc manh áo mỏng cũng chẳng hề hấn. Quá nửa buổi chiều, sương và mây tụ lại, buốt thun thút. Dãy đào trong khuôn viên đồn biên phòng thân mốc thếch địa y đang bật nụ, đơm hoa. Nhìn kỹ từng mắt lá, nụ bông mới cảm nhận hết vẻ đẹp bền bỉ, huyền bí và kiêu hãnh. Cánh đào biên ải không hồng rực, mỡ màng như đào dưới xuôi mà hoang sơ, se sắt như trổ ra từ vồng ngực đá.

“Ðào rừng dân bản mang lên, anh em chiến sĩ mỗi người nhận một gốc. Chị thích, Chớ tặng gốc đào của Chớ, mang về xuôi ”. Chàng lính trẻ người Mông chỉ ra hàng cây đang tỏa bừng sức sống.

“Không làm thế được! Mình thích ngắm đào rừng nở giữa đất này”, giọng tôi xen nỗi bùi ngùi.

“Chớ nói thật mà! Cây thì trồng lại được chứ người về xuôi rồi khó lên đây lắm! Cứ nhìn vào mắt nhau thì biết thôi...”. Câu nói ấy khiến tôi giật mình, cay mắt. Cuộc trò chuyện giữa tôi và chàng lính biên phòng buồn vui lẫn lộn. Tôi tiết lộ, sẽ viết một chút gì đó, bắt đầu từ hoa đào biên ải và những cơ duyên gặp gỡ trong đời. “Thế thì hay quá!”. Ánh mắt người lính hấp háy, miệng nhoẻn cười, điệu bộ hệt cái đêm tôi hiểu nhầm và bỏ chạy.

Anh Dũng và Chớ đi bên tôi, trên con đường quanh co dốc. Một tán cây cổ thụ sừng sững đằng đông. Dân bản nói, đó là cây lâu đời nhất rừng thiêng, nơi diễn ra mọi lễ nghi của đồng bào Hà Nhì cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng no ấm. Trong khu rừng thiêng ấy, dù là mầm cây vừa nhú, thân cỏ yếu mềm hay gốc cội nghìn năm mục ruỗng cũng bất khả xâm phạm. Chẳng có mệnh lệnh nào, là con người tự nguyện tuân theo. Chúng tôi đứng trên mỏm núi vắng hiu, mây chiều từ lòng thung lũng dâng lên cuồn cuộn. Phút chốc, người hòa vào núi, núi đổ bóng người. Rồi những tiếng cười rúc rích vang lên. Là những cô gái hôm nọ trên trạm. Họ tươi tắn, reo vui như chưa từng gợn lên hờn trách, trên tay nào măng rừng, thảo dược gửi tôi về xuôi.

“Chị ạ! Ðàn bà con gái không được vào rừng thiêng, chỉ đứng xa nhìn… Anh Dũng kể, chị còn là nhà thơ, chị đọc tặng chúng em đi!”. Cô gái đứng cạnh Chớ nháy mắt tinh nghịch, từng đốm tàn nhang trên gò má nhấp nháy theo.

“Người có thể quên nhau/Nhưng đất là máu xương nước mắt/ Người có thể hận thù hờn trách/Rừng vẫn đầy bao dung/Em cứ mở lòng mình rồi sẽ thấy/Cánh hoa bay tự biết lối về/Chái nhà vẫn tiếng chim gù quẩn mùi khói bếp/Em có là ai vẫn khôn nguôi hờn tiếc/Vẫn nhìn trẻ nhỏ khóc cười biêng biếc những ngày sau…”.

Truyện ngắn của Lữ Mai