Hồi ức

Thứ Ba, 02/05/2017, 07:52:45
 Font Size:     |        Print
 

Minh họa PHƯƠNG THANH

Tôi mãi là đứa trẻ của mẹ. Ở trời Tây, mỗi lần gọi điện về vẫn dặn mẹ nên ăn hoa quả, rau trong vườn, trong lúc mẹ từ nhỏ đã chân lấm tay bùn, đến bạc tóc chưa ra khỏi ngôi làng. Tôi hình dung nụ cười mẹ rất hiền. Không như sau quãng thời gian mẹ lãnh vết cắt sắc lẻm vào tim, máu vương cả mặt sông. Từ đấy tôi không bao giờ được theo lũ bạn tắm sông nữa. “Đừng nhìn sông!” Mỗi lần tôi đứng giữa ruộng hứng chút gió trời ngó ra sông quê, mẹ liền nạt rất lớn như vậy. Không được nhìn sông! Mái tóc mẹ chuyển bạc và thỉnh thoảng lặng lẽ khóc như không tin nổi mình đã sống qua những thời gian khắc nghiệt.

- Đừng nhìn sông!

Ở trên đồng, mẹ đều dặn tôi như vậy. Như là mệnh lệnh. Vẫn có lần tôi giấu mẹ lén ra sông. Mùa con nước đang lên tràn bờ bãi. Hình ảnh người thân được lật ngửa, mặt mũi vấy bùn lem luốc không còn nhận ra; mẹ ôm tấm thân ấy vào ngực, muốn truyền sự sống của mình. Đột nhiên mẹ buông tay nằm bệt xuống, ngửa mặt. Đó là lần đầu tiên tôi cảm nhận bầu trời thực sự mênh mang.

*

* *

Nhớ về tuổi thơ như cuốn phim sống động dắt tôi miên man từ cuộc chơi này đến cuộc chơi khác. Mùa hè, quãng thời gian không tới trường, ngoài phụ giúp gia đình việc đồng áng, lũ chúng tôi trưa chiều nào cũng chơi mút mùa. Chăn trâu thì bày trò đánh trận trên những gò lấp xấp cây cối mọc hoang. Lúc mặt trời tụt xuống lại cưỡi trâu qua sông như đoàn quân lâm trận.

Thêm những trò chơi: ô ăn quan, trọi gà cỏ; “cờ bạc” tôi thích hơn cả. Tiền là những chiếc lá chanh, lá vẹm bị sâu bò để lại những vết dãi trắng. Lá nào càng nhiều vết được quy định mệnh giá lớn. Tìm được chiếc lá vệt trắng chằng chịt không dễ; đổi được cả kẹo và những thứ đồ chơi từ đứa khác. Rồi lúc khô ép vào vở, có những đồng tiền đến cấp hai cấp ba vẫn còn nguyên, gắn với rất nhiều kỷ niệm xao xuyến giữa những người khác giới. Tôi háo hức góp nhóp từng đồng tiền đến lớp cho đứa bạn gái người xã Hậu ngồi gần. Nó sưu tập; nhận từ tôi là biết ngay tiền nào đã có, tiền nào thuộc của hiếm. Gợi lại thật khó dứt. Sau này ra đời tôi nghĩ đồng tiền cũng... giả, chỉ là sự quy ước của con người vậy thôi; cũng như việc chúng tôi lấy lá cây đặc biệt quy ước rồi hiển nhiên nó trở nên quý giá. Loại tiền bằng lá phơi khô ấy mãi đến sau này vẫn còn nguyên trên hành trình sống của tôi...

Mùa hè lũ trẻ rất thích chơi bắn nhau bằng súng nước. Đứa nào cũng cố làm cho mình cái súng nước có lực, cả đẹp nữa. Chia phe. Cách đánh thứ nhất là giáp lá cà, cần nhiều đạn. Mỗi đứa múc một thùng nước để dưới chân, đứng cách đối phương mấy mét tự quy định. Có thể dàn hàng đôi bên, từng đứa một thách nhau. Súng thì tùy, nhưng lượng nước phải ngang bằng. Đứng nguyên một chỗ không rục rịch. Cứ hút nước, đưa lên, bắn. Hút nước, đưa lên, và bắn. Đứa nào hết nước trước cũng phải đứng đó cho đến lúc bên kia hết đạn kỳ thôi. Vậy nên rất cần chiến thuật. Đứa khôn thường bình tĩnh tránh đạn, rồi nhắm thẳng mặt đối phương xả từng băng một. Tội những đứa chưa có kinh nghiệm chiến đấu, cậy sức nên hút nước bắn tới tấp, đến lúc hết nước thì dẫu che dẫu tránh cũng “tan nát”. Lại có cách đánh trận theo kiểu trốn tìm. Chia ra, lấy con đường ống của xóm làm giới tuyến, tùy nghi di tản, tùy nơi ẩn nấp. Lần tôi đang lòn kín đáo qua những lùm cây rậm, bỗng... ướt. Tưởng con gì đái, nào ngờ sau đó lại ướt tiếp, rồi có tiếng nạt: “Chết rồi, ra đi!” Tôi ngẩng đầu thấy một thằng ngồi chềm hễm trên chạng cây. Thì ra hắn trốn đó bắn mình; nhưng tiết kiệm đạn để bắn đứa khác nữa, nó chỉ “xòe” một tí đủ loại tôi khỏi vòng chiến đấu. Nghĩ lại thấy tuổi thơ quá đỗi thật thà. Hễ bị dính đạn là tự động dẫn xác ra, không chối cãi. Chơi trốn tìm cũng vậy, thấy hô tên mình, ở bụi cây nào, mầu áo gì liền ra ngay, chẳng hề nghĩ sẽ lòn qua chỗ khác, thủ tiêu vật chứng.

Có đêm tôi nằm mơ, lồng dậy. Vợ mở mắt từ lúc nào, có lẽ nàng đã nghe gì đó. Tôi bó gối cố nhớ. Nhớ. Và chợt rùng mình! Trí nhớ đang lần về cái đêm hôm ấy, đêm ở con sông làng kỳ đại hạn. Cái đêm những ngọn đuốc thắp lên như ma trơi giữa đồng. Đêm mà người con gái ấy chưa kịp nhìn thấy mặt tôi… Tôi vội hỏi xem mình vừa nói gì, vợ lắc đầu. Hình như ác mộng. Tôi cố xóa từ “súng” khỏi trí não mình, và hét lên trong tâm khảm: Đó là cái ống nứa bắn nước, không phải súng. Đó là cuộc chơi vô tư thơ trẻ, không phải một trận chiến với kẻ thù. Nhưng…

Con sông này được đào từ đời cố. Thời bà ngoại còn con gái chỉ việc khảo mương; mỗi lần như vậy cũng mất mấy ngày chuyền từng cục đất lớn qua tay nhau lên bờ, mệt lử. Bên kia sông là ruộng của xã Hậu. Họ mon men trồng lúa gần bờ rồi nay nhiều người mua lưới bắt cá. Có lần ông trưởng làng ý kiến lên xã đề nghị không cho người khác tới đánh cá, sông là do làng đào nên. Xã ầm ừ, thực tế khó giải quyết. Dân làng tôi buộc phải tự động bảo vệ nguồn lợi.

Có một cách đánh cá lũ chúng tôi luôn ngóng đợi là buông chuôm. Khoảng dăm nhà cùng chặt ngọn tre cắm chi chít một diện tích hình tròn giữa sông, để như vậy khoảng tuần, cá thấy mát sẽ tụ tập về sinh sống; người ta liền vây lưới, rút gậy tre ra. Lúc họ đã bắt cá gần như kiệt thì lũ trẻ được quyền nhảy xuống hôi những con nhỏ. Cha tôi chủ chuôm, nên việc chia thành phẩm cũng ở nhà tôi; con nít cả xóm đều đến xem, xin những con cá màu mè lạ lẫm về nuôi. Tôi luôn kiếm được những loài cá rất độc, đem bỏ vào chai tới lớp cho đứa con gái người xã Hậu, rất dễ thương.

Một hôm tôi theo cha ra sông thăm mức nước chuẩn bị cho đợt buông chuôm mới, ngạc nhiên: có người đang dùng máy nổ hút nước vây cá; hèn chi cả trưa chúng tôi nghe tiếng máy. Hai thanh niên, tôi biết một. Thằng ấy là anh trai đứa bạn gái học cùng lớp với tôi. Tôi từng cùng bạn học tới thăm thầy giáo chủ nhiệm, nhà nó ở cạnh nên đã ghé vào, cả vườn ổi bị vặt sạch. Cảnh tượng bất ngờ khiến tôi không biết xử trí ra sao. Cha tôi nạt, ai cho bây tới đây bắt cá. Nó không vừa, đốp lại: cá giữa sông ai bắt chả được. Cha sấn tới chỉ mặt, đồ con nít ranh biết sông do làng ai đào không? Ông vừa xộc tới, thằng ấy đột nhiên quay lại dồn lực toàn thân vào đôi tay xô mạnh. Cha ngã dúi xuống bùn lầy. Lúc ông dựng mình dậy thì thằng ấy đã bỏ chạy. Tôi không hiểu sao vẫn đứng trơ ra. Cha lem luốc mặt mày, chạy ra giữa sông lặn xuống, rất lâu, tưởng như muốn trầm mình, rồi đột nhiên ông trồi lên dữ dội như con cá sấu vồ mồi.

*

* *

Bao nhiêu năm sống ở trời Tây xa thẳm, trở về, quê khác xưa. Nơi đầu tiên tôi muốn thăm là cánh đồng lúa. Những gò đồi lũ trẻ chơi trò đánh giặc nay mất dấu vết, thay vào đó là khu bệnh xá khang trang. Loài cây mưng mọc giữa đồng như những cái nấm xanh khổng lồ cũng biến mất, trâu bò không còn bóng râm nằm nghỉ những lúc no, nhai lại. Nhìn ra dòng sông, quặn lòng. Cái chuôm cá ngày xưa gợi về. Hình ảnh cha tôi ngã dúi xuống bùn lầy... Mẹ lắc đầu, con ơi con, ai lại đứng nhìn cha như vậy chứ. Tôi không trả lời được.

Những cuộc đánh trận giả sục sôi. Tôi từng làm tướng quật ngã những thằng bạn đen trũi khỏe như trâu mộng. Đêm hôm đó tôi quyết ra tay. Đứa bạn gái học cùng sẽ không biết gì đến chuyện này. Sòng phẳng, đơn giản là tôi phải cảnh cáo hành động tự tung tự tác lại còn láo lếu của hắn. Gần tới sông thì thấy có đến mấy người, những ngọn đèn lấp lóa soi những hình nhân hì hụi bắt cá. Cả người lớn. Họ tiếp tay hay chính họ đã xúi giục trẻ con làm điều này? Ngại ngùng. Mình tôi mà đến có khi bị vây lại ăn đòn. Hay về kêu lũ bạn. Đứa nào cũng rất hăng. Chúng tôi sẽ dàn quân đột kích ra đòn chí tử. Tôi quay về với toan tính đó.

*

* *

Vợ đón tôi với nụ cười mãn nguyện. Nghe giọng không ai còn nhận ra người bên kia sông nữa. Ngày xưa và cả bây giờ, người xã Hậu có giọng nặng, ồm ồm. Có đẹp đến mấy, nếu cô gái xã Hậu cất tiếng tự nhiên trai tráng mất hết cảm tình; vậy mà tôi đã lấy vợ người bên đó. Tại sao? Câu hỏi vẫn thường lởn vởn. Tôi có thực muốn cưới người ta hay cố âm thầm xóa đi tội lỗi…

Làm sao xóa? Bao giờ cũng tự hỏi mình có thực yêu người con gái giờ là vợ? Bao giờ tôi cũng trả lời dĩ nhiên có. Có. Tôi đâu bồ bịch, tôi cũng không có thói tìm chút gì mới mẻ lần xa vợ đến nửa năm trời. Nhưng sao cảm giác tội lỗi vẫn thường gờn gợn, thậm chí tôi sợ nó hiện lên trong mơ hơn cả lúc đầu óc tỉnh táo xét đoán. Tôi mang nó đến bao giờ? Đến bao giờ sẽ phai, sẽ được hoàn toàn xóa khỏi trí não. Rất nhiều lần tôi vẫn tưởng lại cú đánh của mình. Không quá hiểm. Lỡ thôi. Sao hắn có thể gục xuống? Hắn gục xuống rồi tôi vẫn ngỡ mình đang chơi trận giả. Cha thét: “Về! Lại rửa ráy chạy về ngồi vào bàn học ngay”. Tôi bỏ lại hết thảy, băng qua những ruộng lúa đã trổ đòng. Lá lúa khứa vào chân tứa rát.

Có lần ngồi ở cửa sổ máy bay nhìn thấy một dòng sông nhỏ phía dưới, lại nhớ đàn trâu được lùa ra tắm gội hoàng hôn trước lúc chúng tôi cưỡi về sà vào ăn bát cơm mùa mới. Nhớ đoạn sông máu thấm xuống bùn… Nhớ cha! Nhắm mắt, gục đầu một chốc, máy bay lẫn vào mây trắng. Nhớ đám tang. Nhớ người vợ hồi đó còn là bạn học phổ thông cùng lớp đã đến viếng. Thời gian trôi, gặp lại nhau lúc đã qua tuổi dậy thì, tôi từng dẫn cô về ra mắt. Hàng xóm và anh em trong gia đình không ai còn nhớ mặt, nhưng mẹ tôi nhớ. Cô bạn về rồi, tôi ngửi thấy mùi nhang mẹ vừa thắp.

Những hình ảnh quá vãng chập chờn dưới ánh điện mờ, nhưng lóe sáng trong tâm thức tôi mãi mãi. Tôi vừa về nhà, chưa kịp huy động lũ bạn, cha đã bảo rửa chân tay vào học bài. Ông gọi chị tôi đến ra đề toán và hẹn lúc ông về phải làm xong. Rồi ông đi, thường tình như bao đêm qua hàng xóm uống nước chè xanh nói chuyện đồng áng nắng mưa, chuyện cá tôm mùa khan hiếm. Không ai hỏi ông đi đâu. Mười giờ, khuya, và bóng đêm vĩnh viễn. Mẹ rọi đèn đến mấy nhà cùng chung chuôm đánh cá, ai cũng hỏi không phải mấy ổng giăng lưới đêm sao. Những người vợ tất tả chạy khắp làng. Đèn đuốc nhấp nhô giữa những con đường làng. Bến sông lặng ngắt. Không tiếng sóng. Không ai phát hiện ra máu đã hòa rất nhiều xuống lòng sông xanh thẳm… Tôi theo sát mẹ, người run bắn. Bên kia bờ, đứa bạn gái học cùng lớp đang ôm lấy anh trai mình gào khóc dưới ánh trăng xanh xao xám lạnh.

*

* *

Tôi vẫn phải xem lại cuốn phim đó từ tiềm thức. Bao giờ tôi cũng muốn chèn thêm vào những trường đoạn khác nhau, để lái câu chuyện qua một cái kết hồn hậu. Nghe lời cha, tôi ở nhà học bài đợi lúc ông trở về kiểm tra. Buồn ngủ, tôi thiếp luôn trên bàn. Tỉnh dậy không thấy ai. Những chiếc giường trống. Tôi chạy ra ngõ, chợt thấy đèn đuốc ngoài sông. Chắc cha cùng hàng xóm đang dỡ chuôm bắt cá. Tôi theo đường lớn, gần đến đoạn ngoặt ra đê chợt gặp người con gái ấy… Cha tôi lắc đầu. Nhạt! Cuốn phim vẫn y nguyên, và dường như tôi càng xem nó càng rõ nét. Vào những ngày giỗ, ở bên trời Tây tôi vẫn thắp nhang, thầm khấn xin cha cho thay lại đoạn kết…

Chưa bao giờ tôi kể vợ nghe về đêm kinh hoàng đó. Cái đêm tôi phải ngồi học bài. Không nghe lời cha, khoảng mươi phút tôi bỏ vở lén ra sông. Sông đang cạn, dĩ nhiên không tiếng sóng. Cha một chiến tuyến, anh trai của cô bạn học cùng lớp với tôi một chiến tuyến. Tôi móc vũ khí hùng hổ sấn tới. Cha không kịp ngăn… Tôi chưa từng kể với vợ và bất kỳ ai về hành động của mình đêm đó. Kể cả mẹ cũng không hề biết, rằng cha, đã tự nguyện ra đi lặng lẽ, thân lấm bùn để rửa sạch cuộc đời tôi giữa màn đêm giăng phủ…

Truyện ngắn của HỒ TRUNG LIÊN