Hạn, mặn & nguyên tắc “không hối tiếc”

Thứ Sáu, 20/03/2020, 15:23:42
 Font Size:     |        Print
 

Người dân thành phố Bến Tre xếp hàng để có từng can nước ngọt.

Trận hạn mặn đang diễn ra ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã vượt mốc lịch sử trăm năm. Toàn vùng bị ảnh hưởng; năm tỉnh đã công bố tình trạng khẩn cấp; nhiều diện tích lúa, vườn cây, thủy sản, rau màu bị thiệt hại; dân thiếu nước sinh hoạt... “Chung sống với hạn mặn” là cần thiết, nhưng quan trọng hơn là các giải pháp thích ứng chủ động, phòng tránh thiên tai, loại bỏ “nhân tai”.

Hệ lụy từ con người

Kết quả nghiên cứu khoa học và từ thực tiễn đã nhận diện rõ nguyên nhân gây hạn mặn khốc liệt năm nay là do El Nino, mưa ít, đầu nguồn sông Mê Công thiếu nước trầm trọng. Cùng với đó, việc hệ thống các đập thủy điện trên thượng nguồn tích nước cũng như việc khai thác tài nguyên thiếu kiểm soát đã làm cho tình trạng khô hạn, xâm nhập mặn ở ĐBSCL càng trầm trọng hơn.

Chuỗi các đập thủy điện đầu nguồn, dự án chuyển nước dòng chính Mê Công đã tác động tiêu cực vùng hạ lưu. Mặc dù thủy điện tuy không làm mất đi lượng nước, nhưng để vận hành các đập phải tích nhiều nước trong lúc hạn và xả nước trong mùa lũ. Điều này đã làm thay đổi quy luật điều tiết nước tự nhiên của dòng Mê Công theo hướng tiêu cực, khắc nghiệt. Đặc biệt, thủy điện là “thủ phạm” làm giảm lượng phù sa, chặn lối di cư và sinh sản tự nhiên của các loài thủy sản, làm suy giảm trầm trọng hơn chất lượng tài nguyên nước của sông Mê Công.

ĐBSCL là cửa ngõ ra Biển Đông, chịu ảnh hưởng trực tiếp của mối quan hệ giữa sông Mê Công và các vùng biển. Việc các quốc gia đầu nguồn xây đập thủy điện, “trích máu dòng sông” bằng các dự án chuyển nước sông Mê Công và tác hại của đê bao cục bộ trong vùng khiến các dòng sông thiếu nước trong mùa kiệt, đói phù sa. Sông cạn, nước mặn lấn sâu vào đất liền, cùng với các tác động tích lũy, liên hoàn do sụt lún, sạt lở…, song song với tình trạng biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

Có thể nói, chính con người đã làm trầm trọng hơn tình trạng hạn mặn, phá vỡ mối quan hệ tự nhiên sông-biển.

Không sợ mặn!

Hạn mặn khốc liệt là thiên tai, là bất khả kháng. Song, con người có thể chủ động thích ứng, giảm nhẹ thiệt hại, thậm chí khai thác điều kiện sinh thái mặn - lợ. Tư duy đó đã được thể hiện trong Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về việc ĐBSCL chủ động thích ứng biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, cần được hiện thực hóa trong chương trình, kế hoạch phát triển của địa phương, huy động sự tham gia của doanh nghiệp và người dân.

Tại ĐBSCL, nhờ chủ động cảnh báo sớm, nhiều trà lúa đông xuân đã được dịch chuyển lịch thời vụ sớm, nên né được hạn mặn. Trong khi nhiều nơi bị ảnh hưởng nghiêm trọng do hạn mặn, thì việc các nhà vườn ở Kế Thành, Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng chủ động nước tưới trong mương vườn, áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm và thường xuyên theo dõi tình hình hạn, mặn qua các hội nhóm trên Zalo, Facebook đã phát huy hiệu quả. Nông dân các xã Lương Nghĩa, Tân Tiến, Long Mỹ, Hậu Giang vẫn “sống chung” với các mô hình chuyển đổi giống cây trồng thích ứng hạn, mặn, làm “1 vụ tôm + 1 vụ lúa”, đang lúc chờ nước mặn vào ruộng để thả tôm giống nên không sợ mặn.

Các dự án điều tiết nước trong vùng ĐBSCL kịp đưa vào sử dụng trong năm nay cũng đã giúp các địa phương trong vùng phòng, chống hạn hán và xâm nhập mặn hiệu quả. Đơn cử như cống âu thuyền Ninh Quới nằm trên kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp góp phần điều tiết mặn - ngọt cho ba tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng và Hậu Giang, ngăn tác hại của tình trạng xâm nhập mặn vùng lúa, hoa màu trong tiểu vùng. Hay như tiểu dự án Măng Thít ở tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, dự án Bắc Bến Tre, trạm bơm Xuân Hòa ở tỉnh Tiền Giang cũng đã kịp hoàn thành vào cuối năm 2019, bước đầu ứng phó hạn mặn. Cách làm và nhiều mô hình tốt này đã thể hiện tư duy thích ứng, “không sợ mặn” của người miền Tây.

Thuận tự nhiên và “ba chuyển dịch”

Các mô hình hay, mới nói trên của nông dân miền tây chính là sự tiếp nối “tri thức bản địa” từ bao đời nay. Người dân ven biển đã biết dùng lu, khạp để trữ ngọt mùa mưa dùng cho mùa khô. Từ xưa, cùng với mùa nước nổi, thiên nhiên đã hình thành các “túi nước tự nhiên” khổng lồ ở vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên để trữ nước.

Tư duy thích ứng tự nhiên cần được nâng tầm lên bằng việc rà soát, cập nhật, điều chỉnh quy hoạch tổng thể vùng, từng tiểu vùng, ngành, nhất là quy hoạch sản xuất, hạ tầng thủy lợi, giao thông. Sản xuất nông nghiệp cần áp dụng “ba chuyển dịch”: dịch chuyển lịch thời vụ để “né hạn, mặn”, sử dụng giống phù hợp điều kiện hạn, mặn; mạnh dạn chuyển đổi cây trồng, vật nuôi hiệu quả kinh tế hơn cây lúa kèm theo là các giải pháp kỹ thuật, tín dụng, gắn với thị trường tiêu thụ nông sản để bảo đảm sự chuyển đổi thành công; tránh duy ý chí và hành chính hóa sản xuất.

Vừa phòng tránh dịch bệnh, vừa thích ứng, giảm tối đa thiệt hại do hạn mặn gay gắt là một thách thức lớn. Những giải pháp công trình rất cần, nhưng các giải pháp phi công trình cũng không thể thể thiếu. Chính quyền và người dân không thể ngồi chờ, nhưng cũng không nên đổ tiền vội vã vào các công trình cục bộ. Bài toán cân bằng tổng thể và yêu cầu “chi phí - lợi ích” cũng như nguyên tắc “không hối tiếc” cần được đặt ra trước tiên cho bất kỳ một quyết định đầu tư công trình nào.

Có thể xem trận hạn mặn lịch sử năm nay là “liều thuốc thử” để củng cố tư duy thích ứng, dựa trên nền tảng khoa học và thực tiễn, trước những khó khăn, thách thức và cả cơ hội chuyển mình của ĐBSCL.

Tình trạng hạn mặn ở vùng ĐBSCL diễn ra theo chu kỳ nhanh hơn, thậm chí quy luật lũ, hạn mặn cũng trở nên thất thường, đòi hỏi phải chủ động tìm ra giải pháp ứng phó trước mắt và lâu dài mang tính thích ứng tốt hơn.

TS TRẦN HỮU HIỆP

Chia sẻ