Nhức nhối rác thải, nước thải

Thứ Sáu, 08/03/2019, 13:35:14
 Font Size:     |        Print
 

Do xử lý xả thải kém nên sông Kim Giang ô nhiễm nặng.

Thật khó tưởng tượng được, ngay ở Thủ đô Hà Nội mà người dân ở trong các quận nội thành, nhiều khu vực ngoại ô thành phố đã phải chịu cảnh sống chung với nước thải ô nhiễm từ các con sông, kênh nước; từ các làng nghề, cụm công nghiệp trong hàng chục năm trời. Nếu không quyết liệt hành động, cái giá phải trả đối với môi trường có thể thấy trước là quá đắt!

Kỳ 1: Đằng sau những công trình phơi mưa nắng

Trong suốt quá trình đi thực tế, chứng kiến những trạm xử lý nước thải được đầu tư trị giá nhiều tỷ đồng phải đắp chiếu, chậm tiến độ xây dựng hoặc hoạt động cầm chừng, lãng phí giữa Thủ đô mà thấy xót xa. Thêm nữa, vấn đề thu gom, xử lý rác thải cũng còn quá nhiều bất cập.

Vì đâu nên nỗi?

Nỗi lòng của người dân Có mặt tại trạm xử lý nước thải (XLNT) xã Tân Triều (huyện Thanh Trì), chúng tôi chứng kiến công trình đang xuống cấp, gỉ sét, cỏ hoang mọc um tùm… Trong khi đó, các hộ dân, doanh nghiệp trong Cụm công nghiệp làng nghề Tân Triều vẫn ngày đêm hoạt động xả thải trực tiếp ra môi trường. Đáng nói, trong đó, có nhiều cơ sở tái chế rác, nhựa, xả trực tiếp nước thải ra môi trường. Có thể hiểu vì sao, kênh nước N1, cạnh trạm XLNT luôn bốc mùi ô nhiễm, đen đặc. Một số con kênh dọc xã Tân Triều, hướng đường Nguyễn Xiển cũng tràn lan rác thải sinh hoạt, phế thải xây dựng, không chỉ mất mỹ quan đô thị mà còn gây ô nhiễm môi trường. Cả chục năm trời, nghịch lý vẫn diễn ra giữa thành phố đông đúc. Bà Nguyễn Thị Tư, cư dân tại đây chỉ biết than: “Dân chúng tôi qua lại nhìn cái trạm bỏ hoang vừa bất bình, vừa lo cho sức khỏe của mình, nhưng cũng không biết phải kêu ai?”.

Được biết, trạm nước XLNT xã Tân Triều được xây dựng vào năm 2007, với mục tiêu phục vụ cho Cụm công nghiệp làng nghề Tân Triều được thành lập cuối năm 2009. Nhưng do công tác quản lý thiếu chặt chẽ, nên từ khi xây dựng đến nay, trạm chưa một lần hoạt động. Mãi cho đến năm 2017, đơn vị quản lý trạm là Công ty TNHH Đầu tư và phát triển xây dựng mới bàn giao cho Công ty Vạn Thuận. Tuy nhiên, khi Công ty Vạn Thuận rà soát, kiểm tra và đánh giá thực trạng của trạm là cũ nát và xuống cấp trầm trọng, không còn khả năng đáp ứng về công suất cũng như khả năng xử lý nước thải của Cụm công nghiệp làng nghề Tân Triều. Muốn tìm câu trả lời cho bà Tư và cũng là của những người dân nơi này, chúng tôi gặp ông Đặng Ngọc Quyền, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Triều. Nhưng ông Quyền cũng không thể cho biết gì hơn ngoài việc cũng chỉ nêu nguyện vọng mong sao công trình sớm đi vào hoạt động để tránh lãng phí thêm. Tiếp tục tìm câu trả lời, đầu năm 2019, chúng tôi làm việc với Sở Xây dựng Hà Nội, đơn vị này cho biết UBND thành phố đang xem xét tìm nhà đầu tư, cải tạo.

Xuôi xuống huyện Thường Tín, khu vực thuộc diện nhiều làng nghề nhất cả nước, nhưng trạm XLNT Cụm làng nghề Duyên Thái, chuyên sản xuất hàng sơn mài cũng chịu “chung số phận”. Thế nhưng, điều đáng ngạc nhiên là cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Thường Tín không nắm được thực trạng này, mà “chỉ” phóng viên xuống gặp cán bộ xã!?

Theo tìm hiểu, năm 2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đầu tư xây dựng trạm nhằm xử lý nước thải cho Cụm làng nghề Duyên Thái (xã Duyên Thái), nhưng hiện không thể vận hành do không có kinh phí duy trì hoạt động. Ngày 7-9-2017, Đoàn giám sát của Hội đồng nhân dân (HĐND) thành phố Hà Nội đã có buổi làm việc với huyện Thường Tín về việc thực hiện quy định pháp luật trong hoạt động thu gom và xử lý nước thải tại Cụm làng nghề Duyên Thái. Tại buổi làm việc, các đồng chí lãnh đạo các phòng, ban chuyên môn của huyện, đã đề cập đến những khó khăn, vướng mắc trong việc vận hành xử lý nước thải tại Trạm XLNT Duyên Thái. Thế nhưng, đến nay vẫn chưa có phương án để đưa công trình đi vào hoạt động.

Đến nước này, ông Nguyễn Huy Toản, một hộ dân sản xuất trong khu vực chỉ còn biết thốt lên: “Mong thành phố và các cơ quan sớm có phương án khắc phục chứ ô nhiễm môi trường làng nghề, ô nhiễm nguồn nước ngầm đã nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống người dân lắm rồi!”.

Những “điểm đen” nhức nhối

Các chuyên gia môi trường đánh giá, hầu hết các dòng sông và phần lớn ao hồ ở Hà Nội đều ô nhiễm nặng. Trong đó có những con sông ô nhiễm nặng nề mà nhiều năm qua không khắc phục được là sông Tô Lịch, sông Sét, sông Nhuệ, sông Kim Ngưu… Có một dự án kỳ vọng sẽ “hồi sinh” các con sông như Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét và một phần sông Nhuệ, góp phần tạo cảnh quan, sinh thái đô thị, phát triển bền vững Thủ đô, đó là Nhà máy XLNT Yên Xá (nằm trên địa bàn xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì). Song dù được khởi công từ ngày 7-10-2016 nhưng đến nay vẫn chưa chọn được nhà thầu đủ năng lực. Ở thời điểm hiện tại, dự án gần như “án binh bất động”, được quây tôn kín. Với nguồn vốn vay ODA của Nhật Bản, dự án Nhà máy XLNT Yên Xá có công suất xử lý 270.000 m3 nước/ngày đêm, mức đầu tư hơn 16 nghìn tỷ đồng. Trong lễ khởi công, tiến độ và tầm quan trọng của Dự án được nhấn mạnh trong những tiếng vỗ tay rào rào. Người dân cũng kỳ vọng Dự án hoàn thành vào tháng 10-2019, trước hai năm so với thiết kế ban đầu là hoàn thành vào năm 2021. Thế rồi, Dự án ì ạch đến mức không thể hiểu nổi! Ông Đặng Đình Anh, Phó Chủ tịch UBND xã Thanh Liệt, tỏ ra lo lắng: “Với những gì đang diễn ra, dự án hoàn thành đúng kế hoạch còn… là may!”.

Tìm hiểu trên địa bàn Hà Nội còn một số Dự án “thi gan” chẳng chịu hoàn thành, là Nhà máy XLNT Phúc Thịnh (thị xã Sơn Tây), Ngọc Sơn (huyện Chương Mỹ) được phê duyệt đầu tư từ năm 2014, hay trạm XLNT tại Cụm công nghiệp làng nghề xã Liên Hà (huyện Đan Phượng) gần như giẫm chân tại chỗ. Ông Nguyễn Thạc Hùng, Phó Chủ tịch UBND huyện Đan Phượng cho biết, trên địa bàn huyện chỉ có 1/7 cụm công nghiệp có trạm XLNT tập trung. Nhiều cụm làng nghề, cụm công nghiệp “trắng trạm XLNT” nên có nhu cầu cấp thiết được cải thiện về điều kiện môi trường để làm việc, nhưng mòn mỏi nhiều năm vẫn chưa có tín hiệu lạc quan.

Vấn đề về các nhà máy, trạm XLNT đúng là một bức tranh xám mầu, nơi thì bỏ hoang, nơi xây dựng chậm tiến độ. Thế nhưng, ngoài thực tế còn một nỗi lo lãng phí khác cũng chẳng thua kém, là không ít trạm được đầu xư xây dựng tốn kém nhưng hoạt động thiếu hiệu quả. Tiêu biểu như Nhà máy XLNT Hồ Tây, đi vào hoạt động từ năm 2013, dù đã có hệ thống thu gom, nhưng không thể chạy hết công suất thiết kế 15 nghìn m3/ngày đêm. Điều đó dẫn đến Hồ Tây vẫn bị ô nhiễm, có thời điểm cá chết hàng loạt vì tiếp nhận nước thải trực tiếp từ các cống chung quanh hồ. Đến năm 2015, nhà máy vẫn không có đủ nước để xử lý do các đơn vị không chịu đấu nối nguồn xả thải vào hệ thống thu gom. Hai năm sau, UBND thành phố Hà Nội đã phải đầu tư bổ sung hạng mục đường ống tại những khu vực chưa được đầu tư như hồ Trúc Bạch và các hồ phụ cận đưa về Nhà máy XLNT Hồ Tây, để xử lý, giảm sự lãng phí.

Ở phía tây thành phố Hà Nội, Nhà máy XLNT Cầu Ngà, thuộc xã Dương Liễu (Hoài Đức), dù đầu tư nhiều tỷ đồng, nhưng mới chỉ “phục vụ” được lượng nước thải của 10 thôn trong đê sông Đáy, còn lại nước thải, rác thải trong quá trình sản xuất và chế biến tinh bột, củ dong, củ sắn ở bốn thôn của Miền Bãi (ngoài đê sông Đáy) vẫn xả thẳng ra môi trường, gây ô nhiễm trầm trọng, kênh mương bốc mùi hôi thối. Đây là “điểm đen” về ô nhiễm môi trường mà nhiều năm qua, người dân địa phương cùng chính quyền đã kiến nghị lên các cơ quan chức năng, nhưng chưa có cách tháo gỡ hiệu quả.

Làm việc với các cơ quan chức năng, được biết một số nhà máy XLNT tại các cụm công nghiệp hoạt động không hiệu quả có nguyên do từ việc các doanh nghiệp chưa phối hợp với các chủ đầu tư của cụm công nghiệp trong đấu nối thoát nước để thu gom nước thải về trạm xử lý. Một số doanh nghiệp phát sinh lượng nước thải lớn đều đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải riêng, được Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội cho phép xả thải, nên không cần xử lý qua trạm. Cùng với đó, một số đơn vị khi đầu tư nhà máy XLNT trong nội thành chưa tính toán kỹ nhu cầu xả thải dẫn tới công suất vận hành thấp hơn nhiều so với công suất.

(Còn nữa)

Các chuyên gia môi trường đánh giá tại Hội thảo giới thiệu công nghệ XLNT trong khuôn khổ Dự án “Nâng cao năng lực quản lý các công trình thoát nước tại TP Hà Nội (Giai đoạn 2)”: Công suất các nhà máy XLNT mới chỉ đáp ứng được khoảng 22% nhu cầu XLNT. Đây là con số đáng lo ngại.


NGUYỄN VĂN HỌC

Chia sẻ