Bộ Tư lệnh Miền trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975

Thứ Sáu, 17-04-2015, 21:47

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, chiến trường Nam Bộ, cực nam Trung Bộ, nam Tây Nguyên (gọi tắt là B2) có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng. Chỉ huy các lực lượng vũ trang (LLVT) cách mạng trên địa bàn này là Bộ Tư lệnh (BTL) các LLVT nhân dân giải phóng miền nam Việt Nam, tên gọi tắt là Bộ Chỉ huy Miền, từ năm 1971 gọi là BTL Miền.

Năm 1972, Lộc Ninh giải phóng, trở thành thủ đô của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam. Để ổn định căn cứ đứng chân, thuận tiện cho việc chỉ huy các LLVT trên chiến trường B2, đầu năm 1973, BTL Miền dời sở chỉ huy từ một điểm ven biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia về sóc Tà Thiết, xã Lộc Thành, huyện Lộc Ninh (Bình Phước). BTL lúc này gồm các đồng chí: Phạm Hùng (Bí thư T.Ư Cục, Bí thư Quân ủy Miền, Chính ủy); Hoàng Văn Thái (Tư lệnh); Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, Đồng Văn Cống, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Hữu Xuyến và Hoàng Cầm (Phó Tư lệnh); Trần Độ và Lê Văn Tưởng (Phó Chính ủy); Nguyễn Minh Châu (Tham mưu trưởng); Trần Văn Phác (Chủ nhiệm Chính trị); Bùi Phùng (Chủ nhiệm Hậu cần).

Trước khi Hiệp định Pa-ri ký kết, phát hiện được kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ" của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, do Phòng Tình báo Bộ Tham mưu Miền cung cấp, BTL Miền đã xây dựng kế hoạch "thời cơ", chỉ đạo LLVT vừa đấu tranh với địch vừa kiên quyết chiến đấu giữ vững thế trận chiến tranh nhân dân, giành lại thế chủ động, gỡ bỏ những lúng túng ban đầu của không ít địa phương và đơn vị trong việc thực hiện điều khoản ngừng bắn tại thời điểm lịch sử đầy tế nhị sau Hiệp định Pa-ri, mở ra thắng lợi quân sự vang dội ở Chương Thiện (Khu 9), Rừng Sác (Khu 7) và nhiều chiến trường khác ở Nam Bộ và cực nam Trung Bộ.

Quán triệt Nghị quyết 21 của Ban Chấp hành T.Ư Đảng (tháng 10-1973) về đường lối cách mạng miền nam "là con đường bạo lực cách mạng, bất kể trong tình huống nào cũng phải giữ vững chiến lược tiến công, tiến lên hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân", BTL Miền đề ra và chỉ đạo các LLVT thực hiện kế hoạch quân sự mùa khô 1973-1974 và toàn năm 1974: đẩy mạnh đánh địch bình định lấn chiếm, nhất là tại đồng bằng sông Cửu Long, tiêu diệt địch ở vùng rừng núi, mở rộng hành lang tiếp nhận chi viện từ miền bắc vào và hành lang thông nối đến các chiến trường ở Nam Bộ và cực nam Trung Bộ. Từ chỉ đạo trên, BTL Công binh Miền được thành lập, làm nhiệm vụ xây dựng đường cơ giới, nối thông con đường cơ giới đông Trường Sơn từ Sê-rê-pốc qua Bù Gia Mập đến Lộc Ninh; hỗ trợ các tiểu đoàn xăng dầu 559 lắp đặt đường ống dẫn dầu từ miền bắc vào Lộc Ninh. Hàng loạt hành lang mới được mở từ bắc Tây Ninh xuống Quân khu 8, Quân khu 9; từ Lộc Ninh xuống Bến Cát, Củ Chi; từ chiến khu Đ xuống Long Phước, Xuyên Mộc. Hệ thống tổ chức hậu cần - kỹ thuật được kiện toàn; tính riêng từ tháng 1-1973 đến tháng 11-1974, các đoàn hậu cần Miền đã tiếp nhận chi viện 37 nghìn tấn binh khí kỹ thuật hiện đại, thu mua và tự sản xuất 80 nghìn tấn lương thực, thực phẩm, không kể 28 nghìn tấn dự trữ từ trước.

Để chuẩn bị lực lượng cho trận đánh lớn, BTL Miền đã đồng thời chỉ đạo điều chỉnh phát triển LLVT ba thứ quân, thành lập mới các đơn vị binh chủng Miền như BTL Thông tin (Đoàn 23), BTL Công binh (Đoàn 25), BTL Tăng - Thiết giáp (Đoàn 26), BTL Đặc công (Đoàn 27), BTL Phòng không (Đoàn 77), BTL Pháo binh (Đoàn 75). Hàng loạt đơn vị vũ trang mới cấp quân đoàn, sư đoàn, trung đoàn ra đời: Quân đoàn 4, Lữ đoàn đặc - công biệt động 316, Sư đoàn bộ binh 3 và các sư đoàn nhẹ thuộc các quân khu 6, 7, 8, 9. Lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định tổ chức thành sáu mũi tiến công: Đoàn 196 (hướng Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp), Đoàn 197 (hướng Tân Bình, Bình Chánh), Đoàn 198 (hướng nam Bình Chánh, Nhà Bè), Đoàn 199 (hướng nam Thủ Đức), Đoàn 195 (trong nội đô). Lực lượng đặc công được bố trí, sẵn sàng tiến công các mục tiêu. Lực lượng biệt động thành tổ chức thành ba tiểu đoàn, 11 đại đội, bố trí hai bên đông và tây TP Sài Gòn. Bộ đội địa phương và dân quân du kích phát triển với tốc độ chưa từng thấy. Đến tháng 12-1974, toàn B2, dân quân du kích tăng lên 96 nghìn người, bộ đội địa phương có gần 87 nghìn quân. Đến cuối năm 1974, BTL Miền đã tham mưu, chỉ đạo, chỉ huy hoàn tất việc chuẩn bị, tạo nên một thế trận và lực lượng mới cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.

Từ giữa năm 1974, khi ngụy quân, ngụy quyền bắt đầu bộc lộ sự suy yếu toàn diện, khó có khả năng gượng dậy trước sức tiến công liên tục của lực lượng cách mạng miền nam, BTL Miền đã gửi nhiều báo cáo với các số liệu tỉ mỉ, phân tích tình hình, nhận định đánh giá và đề đạt ý kiến với T.Ư Cục, Quân ủy T.Ư và Bộ Chính trị. Căn cứ vào tình hình thực tế tại chiến trường, tháng 9-1974, BTL Miền tiếp tục gửi báo cáo đóng góp ý kiến vào dự thảo kế hoạch giải phóng miền nam trong vòng hai năm 1975-1976 của Bộ Tổng tham mưu.

BTL Miền cũng đề xuất các bước đi, cách đánh, phân chia các khu vực cần giải phóng theo thứ tự ưu tiên. Trên cơ sở dự thảo Nghị quyết của Bộ Chính trị (tháng 10-1974) về việc gấp rút hoàn thành mọi công tác chuẩn bị trong thời gian 1975-1976, tạo điều kiện chín muồi để tiến hành tổng công kích tổng khởi nghĩa, BTL Miền xây dựng và chỉ đạo các LLVT thực hiện kế hoạch mùa khô 1974-1975, với các mục tiêu cơ bản: tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng lực lượng và phương tiện chiến tranh của địch; phá kế hoạch bình định của chúng ở đồng bằng sông Cửu Long; xây dựng hoàn chỉnh căn cứ địa miền đông Nam Bộ, giải phóng đường 14 - Phước Long nối liền với Tây Ninh, tạo bàn đạp bao vây Sài Gòn từ hướng bắc, giải phóng lộ 20 - Tánh Linh - Võ Đắc - Xuân Lộc, tạo bàn đạp bao vây cô lập Sài Gòn từ hướng đông; giải phóng Dầu Tiếng, Bàu Đồn, Truông Mít, uy hiếp lộ 22, tạo bàn đạp bao vây Sài Gòn từ phía tây bắc; giải phóng khu vực Bến Cát, Quéo Ba, phân tuyến sông Vàm Cỏ Đông, mở hành lang xuống đồng bằng, tạo bàn đạp bao vây Sài Gòn từ phía tây, tây nam; đưa lực lượng đặc công biệt động bám vào Sài Gòn - Gia Định, tạo thế tại chỗ cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Cuối tháng 10-1974, Bí thư T.Ư Cục Phạm Hùng và Tư lệnh Miền Trần Văn Trà ra Hà Nội báo cáo nội dung kế hoạch với T.Ư Đảng. Do được chuẩn bị từ trước, kế hoạch mùa khô 1974 -1975 được các LLVT Miền triển khai thuận lợi và có hiệu quả. Ngày 6-1-1975, tỉnh Phước Long hoàn toàn giải phóng. Chiến thắng đường 14 - Phước Long chứng tỏ khả năng to lớn của quân chủ lực Miền trong việc đánh bại địch, giải phóng tỉnh và thị xã, rút ra những kinh nghiệm về chiến dịch, chiến thuật, thăm dò được phản ứng của quân ngụy, đặc biệt là của Mỹ.

Thời cơ chiến lược để giải phóng miền nam lộ diện. Bước sang năm 1975, cách mạng miền nam diễn ra trong xu thế "một ngày bằng 20 năm". Tháng 1-1975, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch giải phóng miền nam. BTL Miền điều chỉnh kế hoạch đợt hai mùa khô 1974-1975, lập thêm một đơn vị bộ binh tương đương cấp quân đoàn - Đoàn 232. Ngày 1-4-1975, Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa.

Phương án đánh chiếm Sài Gòn do BTL Miền soạn thảo, được Bộ Chính trị chỉ đạo điều chỉnh thành một chiến dịch quy mô lớn, với ưu thế áp đảo gồm 15 sư đoàn đánh thẳng vào Sài Gòn. Ngày 8-4, Bộ Chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định (ngày 14-4 được Bộ Chính trị quyết định mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh) được thành lập do Đại tướng Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh, Phạm Hùng làm Chính ủy.

Thực hiện ý định của T.Ư, BTL Miền chỉ đạo sắp xếp lại các đơn vị chủ lực, thành lập mới Sư đoàn đặc công 2, điều chuyển các đoàn hậu cần khu vực từ nhiệm vụ phục vụ cho các chiến dịch của Miền và các quân khu chuyển sang phục vụ cho năm quân đoàn chủ lực; chỉ huy lực lượng vũ trang B2 bắt đầu thực hiện các đòn chia cắt chiến lược. Quân đoàn 4 tiến công căn cứ Sư đoàn 18 ngụy tại Xuân Lộc. LLVT đồng bằng sông Cửu Long tiến sát lộ 4, TP Cần Thơ, thị xã Vĩnh Long, các tỉnh lỵ, huyện lỵ. Toàn bộ LLVT thành đội Sài Gòn - Gia Định chiếm lĩnh các vị trí bàn đạp sát nội đô, chuẩn bị sẵn sàng nổi dậy.

Lực lượng tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh được tổ chức thành năm cánh quân tiến theo bốn hướng vào Sài Gòn. Ngoài lực lượng các quân khu tỉnh, đặc công -biệt động tham gia theo các hướng, quân chủ lực Miền đảm nhiệm tiến công theo hai hướng: đông - đông nam và tây - tây nam. Quân đoàn 4 tiến công theo hướng đông - đông nam, mục tiêu là Dinh Độc Lập.

Binh đoàn cánh Tây Nam tiến công theo hướng tây và tây nam, mục tiêu là Biệt khu Thủ đô và Tổng nha Cảnh sát. Ngoài một số cán bộ trong Bộ chỉ huy và các cục Tham mưu, Chính trị, Hậu cần tham gia BTL và các cơ quan Chiến dịch Hồ Chí Minh, bộ phận còn lại tham gia các cơ quan chỉ đạo trên mặt trận đồng bằng sông Cửu Long. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 diễn ra đúng kế hoạch, BTL Miền tự hào đã góp một phần công sức vào thắng lợi chung, từ việc nhận định tình hình, đề đạt phương án tác chiến, tạo thế tạo lực, tham gia chỉ đạo chỉ huy trong suốt quá trình.

Đánh giá vai trò của BTL Miền trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 nói riêng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: BTL Miền đã thực hiện các chức năng cơ bản: làm tham mưu cho T.Ư Cục miền Nam lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, trực tiếp chỉ đạo và chỉ huy các LLVT nhân dân chiến đấu, góp phần cùng quân và dân cả nước lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, giải phóng hoàn toàn miền nam tiến tới thống nhất đất nước !

Đại tá PGS, TS HỒ SƠN ĐÀI

(Nguyên Trưởng phòng Khoa học quân sự Quân khu 7)