Bên kia cây cầu hiện tại...

Thứ Bảy, 22-02-2020, 14:33

Có một dòng sông chảy uốn lượn quanh làng Hoành Nha (Nam Ðịnh) của tôi. Sông mang tên làng. Sông Hoành Nha do người làng tôi thuở khai hoang lấn biển đã đào nên để dẫn nước từ sông Sò về. Người ta gọi sông Hoành Nha là sông con và sông Sò là sông mẹ. Sông con “bú” từ “bầu sữa” sông mẹ mà bồi đắp phù sa vàng mỡ cho cánh đồng hoa màu, ngũ cốc những chiêm mùa chắc hạt, sai bông. Bắc trên dòng sông con ấy là những chiếc cầu, mà tôi nhớ nhất là cầu ông Kinh - nơi bàn chân thơ bé của tôi khi nhẩn nha, lúc tíu tít đi học trường làng mỗi sớm mai.

Cầu ông Kinh được làm bằng một cây gỗ bắc trên những cái chạc chéo và chỉ có một tay vịn bằng tre. Sau này, tôi biết trong Nam Bộ gọi là cầu khỉ. Người lớn vịn một tay, còn trẻ con vịn hai tay khi đi qua cầu. Vịn một tay thì đi thẳng, còn vịn hai tay thì phải đi ngang. Các bà, các chị làng tôi đội thúng đi chợ phiên, đi xát gạo thường buông cả hai tay mà thoăn thoắt đi thẳng qua cầu, còn trẻ con đi ngang như cua bò, cứ dò dẫm lần mò, xê dịch từng bước một vì sợ ngã lộn cổ xuống sông. Cầu ông Kinh mảnh mai, duyên dáng như cô thôn nữ chưa chồng làm duyên soi bóng xuống mặt sông trong vắt.

Cầu ông Kinh nối thôn Thượng với trường học bên kia sông. Bên kia sông có một cây gạo già trầm mặc tỏa bóng xanh mát một vùng và một ngôi chùa cổ uy nghiêm mái ngói, tường vôi rêu phong cổ tích. Dân gian có câu “Cây gạo có ma/ cây đa có thần”. Thế mà cây gạo mọc ngay trước cổng tam quan. Một con đường nhỏ chạy qua giữa cổng tam quan và cây gạo như một ranh giới giữa đạo và đời. Bà tôi bảo cây gạo mọc ở đấy cho ma đói, ma khát lang thang không nơi nương tựa về trú ngụ để nghe kinh kệ của nhà chùa mà chóng được siêu thoát. Trường tôi sát cạnh chùa làng. Tiếng chuông mõ, mùi nhang bài theo gió bay vào cửa sổ lớp học. Tháng ba, cây gạo bên cầu ông Kinh bắt đầu thắp một mùa hoa mới. Mùa hoa bắt đầu nở từ khi lúa đồng thắt đáy lưng ong và kết thúc khi lúa đồng thai nghén trổ đòng. Mỗi bông hoa gạo là một ngọn nến lung linh. Nghìn bông hoa gạo là một mâm xôi gấc khổng lồ dâng lên đức Phật từ bi. Cuối tháng ba, cây gạo trút hết cơn mưa hoa đỏ rực để bước sang hè. Ngày cô tôi lấy chồng cũng vào độ tháng ba. Cô tôi mặc áo phin nõn, quần sa-tanh đen, đội nón lá quai hồng, ôm bó lay-ơn trắng muốt đi cạnh chú rể mặt non choẹt, miệng cười bẽn lẽn. Ðoàn rước dâu qua cầu ông Kinh, tôi thấy cô tôi khóc, nước mắt lã chã tuôn rơi ướt đầm vạt áo. Lúc đó tôi nghĩ tới cây gạo bên cầu ông Kinh đang trút cơn mưa hoa đỏ rực, mỗi giọt nước mắt là một bông hoa. Ai nhìn thấu duyên phận rồi sẽ ra sao. Ðàn bà mười hai bến nước, biết bến nào trong đục. Như bông hoa gạo đỏ rụng xuống dòng sông làng.

Cạnh gốc gạo có một ông già bán kem. Hộp kem làm bằng gỗ có nắp đậy là cái chăn chiên gấp vuông vắn. Hộp kem được chằng buộc dây co trên gác-ba-ga một chiếc xe đạp Thống Nhất cũ đến nỗi bong tróc cả sơn nên chẳng biết nước sơn mầu gì. Chiếc xe đạp còn lắp cả biển số, hẳn là nó đã cùng chủ nhân đi qua cả thời bao cấp đói khổ. Ông già ấy mặc một cái áo bộ đội đã sờn bạc, đầu đội mũ cối, một tay cầm cái kèn tự chế bằng kẽm bóp kêu “búp be, búp be” như mời gọi, còn tay kia luôn sẵn sàng cái nắp đậy chăn chiên để mở ra thế giới của những que kem ngọt ngào, mát lịm. Những que kem làm bằng bột nếp trắng muốt, dẻo quẹo được phủ bởi mấy sợi dừa nõn nà, béo ngậy. Ðưa que kem lên mũi hít một cái rồi ăn thật nhanh để kem khỏi tan chảy, nhưng lại mong kem thật lâu hết để bõ cơn thèm.

Sau những tuần chay, vào giờ ra chơi sư thầy trụ trì chùa làng thường đưa qua rào sang trường cho lũ trẻ chúng tôi chút lộc Phật, khi thì quả ổi, quả táo, lúc phẩm oản, nắm xôi. Thầy xoa đầu một đứa rồi nở nụ cười hiền: “Các con ăn lấy thảo để học giỏi nhé”. Tự nhiên tôi thấy ân hận vì đã mấy lần cùng thằng Việt, thằng Hưởng đi câu trộm cá rô trong ao và hái trộm ổi bo trong vườn của nhà chùa.

Cây gạo đã chặt đi, ngôi chùa đã được trùng tu, trường học đã di dời, cầu ông Kinh đã xây kiểu mới và ông già bán kem đã thành hồn muôn năm cũ. Chỉ còn sót lại cái tên cầu. Bây giờ về quê, tôi không dám bước chân qua cầu ông Kinh bởi kỷ niệm tuổi thơ đã bỏ lại phía sau lưng. Tôi tìm gì nữa phía bên kia chiếc cầu hiện tại. Muốn làm một con chim chào mào đuôi son, bụng bạc bay về ngày xưa đậu trên cây gạo, chuyền sang tam quan ngày rằm rồi sà xuống cầu ông Kinh vào một sớm mai đi học. Hót một lần thôi, rồi lại bay đi, bay đi…

Tản văn của Hải Ðăng