Tìm giải pháp “né” sạt lở ở đồng bằng sông Cửu Long

BÀI & ẢNH: VĨNH TƯỜNG, HƯƠNG TRÀ

Thứ sáu, 13/09/2019 - 05:48 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Đê biển Gành Hào - Bạc Liêu đối diện sạt lở nghiêm trọng.

Tình trạng sạt lở bờ sông ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang lan nhanh với mức độ ngày càng khốc liệt. Nhiều nơi đã nỗ lực có biện pháp khắc phục, song sạt lở vẫn tiếp tục tái diễn. Việc có giải pháp khắc phục sạt lở trước mắt là hiển nhiên, nhưng nhiều ý kiến cho rằng: ĐBSCL cần có một kế hoạch dài hạn để thích ứng, trong đó “né” sạt lở, giảm thiệt hại được xem là giải pháp mềm, linh động.

Dân chờ có chỗ ở mới

Ông Trần Quang Hùng ở xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới (An Giang) cùng gia đình phải chạy sạt lở và đi thuê nhà với giá 500 nghìn đồng/tháng. Ông là một trong số 28 hộ phải di dời khỏi vùng sạt lở bờ kinh Vàm Nao hồi giữa năm 2017. Hiện chính quyền địa phương vẫn chưa tìm ra phương án để giúp các hộ dân này tái định cư. Cũng tại huyện Chợ Mới gần đây đã xảy ra một vụ sạt lở ở Vàm Cái Hố. Khu vực sạt lở có chiều dài khoảng 150 m đe dọa hàng chục căn nhà của dân.

Chợ Mới là huyện cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, nên là nơi có nhiều điểm sạt lở bờ sông nguy hiểm nhất khu vực ĐBSCL. Theo UBND huyện Chợ Mới, toàn huyện có khoảng 44 km bị sạt lở đe dọa, gây ảnh hưởng 9.000 hộ dân. UBND huyện đang khẩn trương phối hợp với các cơ quan chức năng khảo sát các vùng sạt lở trên địa bàn, đề xuất với tỉnh giải pháp khắc phục, trong đó có thể mời gọi đầu tư tái định cư cho dân.

Thực tế, các địa phương đang gặp khó trong việc tái định cư cho các hộ dân bị ảnh hưởng do sạt lở. Tại xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh (Đồng Tháp), gia đình ông Trương Thàng Công là một trong 10 hộ gia đình đang phải lo lắng về chỗ ở tái định cư tránh sạt lở. Ông Công cho biết: “Rất mong chính quyền địa phương sớm có phương án giúp gia đình tôi có chỗ ở mới để ổn định cuộc sống”. Thống kê sơ bộ, Đồng Tháp có hơn 3.800 hộ dân nằm trong vành đai sạt lở nguy hiểm. Tỉnh đang kiến nghị T.Ư hỗ trợ kinh phí khắc phục khẩn cấp sạt lở bờ sông Tiền; xây dựng các cụm, tuyến dân cư... để bố trí hơn 2.400 hộ dân trong vùng sạt lở ổn định cuộc sống. Theo Ths Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia nghiên cứu độc lập về sinh thái ĐBSCL: “Sạt lở không còn tuân theo quy luật thiên nhiên. Nguyên nhân nổi lên là do mất cân bằng. Trước tiên là lòng sông thiếu phù sa do bị các đập thủy điện chắn lại, thêm nữa là tình trạng thiếu cát là do nạn khai thác cát tràn lan”.

Theo các chuyên gia, từ năm 2010 tới nay sạt lở diễn biến ngày càng phức tạp và gia tăng cả về phạm vi và mức độ, uy hiếp trực tiếp đến tính mạng, tài sản của nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn các công trình phòng, chống thiên tai, cơ sở hạ tầng vùng ven biển và làm suy thoái rừng ngập mặn ven biển ĐBSCL. Trung bình mỗi năm, sạt lở cuốn mất khoảng 300 ha đất, rừng ngập mặn ven biển. Theo số liệu thống kê, hiện khu vực ĐBSCL có 564 điểm sạt lở với tổng chiều dài hơn 834 km. Trong đó, sạt lở bờ sông 512 điểm với tổng chiều dài khoảng 566 km (chủ yếu diễn ra dọc theo sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây và các nhánh chính của hệ thống kênh, rạch); bờ biển có 52 điểm sạt lở với tổng chiều dài 268 km.

Theo tiêu chí về phân loại sạt lở bờ sông, bờ biển quy định tại Quyết định số 01/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trong số các điểm sạt lở nêu trên hiện có 57 điểm sạt lở đặc biệt nguy hiểm (gây nguy hiểm trực tiếp đến khu tập trung dân cư và cơ sở hạ tầng quan trọng), với tổng chiều dài 170 km. Trong đó, khu vực bờ sông có 39 điểm với tổng chiều dài 85 km, khu vực bờ biển có 18 điểm với tổng chiều dài 85 km (Biển Đông 15/69 km, Biển Tây 3 điểm/16 km).

Nhiều tuyến đường, cầu giao thông ở ĐBSCL bị sạt lở nghiêm trọng.

Linh động “né” sạt lở

Theo đánh giá của Ủy hội sông Mê Công, do việc xây dựng hồ chứa ở thượng nguồn, lượng bùn cát về ĐBSCL đã suy giảm nghiêm trọng, dự báo đến năm 2020 chỉ còn khoảng 47,4 triệu tấn/năm (giảm 67% so trước năm 2007). Với tốc độ xây dựng hồ chứa như hiện nay, đến năm 2040 lượng bùn cát về ĐBSCL chỉ còn 4,5 triệu tấn/năm (giảm 97% so giai đoạn trước năm 2007). Hệ lụy của việc giảm lượng bùn cát là quá trình sạt lở ở ĐBSCL sẽ diễn ra nhanh hơn và cường độ sẽ gia tăng trong thời gian tới. Thống kê sơ bộ, các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Bạc Liêu, Đồng Tháp và Cà Mau cần phải đầu tư khoảng 10.000 tỷ đồng để xây dựng các công trình kè, đê và di dời dân khỏi vùng sạt lở. Các chuyên gia nhận định, giải pháp bờ kè chống sạt lở tốn nhiều chi phí nhưng thiếu tính bền vững. Cần thực hiện ngay các giải pháp đối phó khả thi, hạn chế được những tác động từ con người như: Ngăn chặn việc khai thác cát tràn lan làm thay đổi dòng chảy, hạn chế tàu bè gây sóng lớn trên các sông, rạch…

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), từ năm 2010 đến 2020 đã bố trí và có kế hoạch bố trí từ nguồn vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 là 8.707 tỷ đồng cho các tỉnh ĐBSCL xử lý sạt lở bờ sông, xói lở bờ biển với tổng số 169 công trình. Ngành chức năng đã xây dựng bộ cơ sở dữ liệu về sạt lở bờ sông, xói lở bờ biển, tổ chức khảo sát những khu vực có nguy cơ cao xảy ra sạt lở (20 khu vực). Đồng thời, hướng dẫn và đôn đốc các tỉnh ĐBSCL tổ chức cắm biển cảnh báo sạt lở bờ sông, bờ biển: Đã cắm được 357 biển (Bến Tre 100; Bạc Liêu 50; An Giang 181; Long An 6 và Vĩnh Long 40 biển).

Thời gian qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ NN&PTNT đã phối hợp với nhiều tổ chức hợp tác quốc tế thực hiện nhiều dự án nghiên cứu xói lở bờ biển ĐBSCL; các đề tài nghiên cứu khoa học chuyên sâu về sạt lở bờ sông, bờ biển. Đồng thời bước đầu xây dựng các tiêu chuẩn xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển như: Hướng dẫn thiết kế đê biển (trong đó có chống xói lở bảo vệ bờ biển). Trong đó, có di dân, sơ tán dân ra khỏi khu vực sạt lở thông qua các dự án thuộc Chương trình xây dựng cụm tuyến dân cư vượt lũ và Chương trình bố trí dân cư các vùng thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di dân tự do, khu rừng đặc dụng.

Theo các nhà khoa học ở ĐBSCL, trong bối cảnh lượng bùn cát từ sông Mê Công giảm nghiêm trọng, các cơ quan chức năng cần điều tra, đánh giá lượng bùn cát về ĐBSCL hằng năm để làm cơ sở cho phép khai thác cát trên hệ thống sông chính. Đồng thời, nghiên cứu, tạo nguồn vật liệu mới thay thế, phục vụ san lấp, xây dựng nhằm hạn chế việc lấy cát từ lòng sông để tôn nền; hạn chế việc sử dụng cát tự nhiên trong san nền, tăng cường sử dụng vật liệu thay thế tự nhiên. Các địa phương cần quyết liệt kiểm soát hoạt động khai thác cát, sỏi xây dựng trái phép.

Việc cấp bách hiện nay là sớm hoàn thiện Đề án bố trí lại dân cư ven sông, kênh rạch, phát triển bền vững vùng ĐBSCL. Để giảm thiệt hại không có cách nào tốt hơn là di dời dân và giữ khoảng cách an toàn trước các nguy cơ sạt lở. Đó chính là cách “né” sạt lở lâu dài và đem lại hiệu quả.