Phát triển kinh tế biển ở đồng bằng sông Cửu Long

BÀI & ẢNH: NHÓM PHÓNG VIÊN THƯỜNG TRÚ ĐBSCL

Chủ nhật, 05/05/2019 - 07:39 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Ngư dân Cà Mau sau chuyến đi biển.

Thực tế cho thấy, tiềm năng về kinh tế biển (KTB) của vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) còn rất lớn, nếu như các tỉnh có một chương trình hành động đúng định hướng, trong đó xác định được thế mạnh nổi trội, đồng thời dành một nguồn lực phù hợp đầu tư có trọng tâm, trọng điểm thì mục tiêu “làm giàu từ biển” sẽ không xa.

Kỳ 4: Hiện thực hóa mục tiêu “làm giàu từ biển”

(Tiếp theo & hết)

Xây dựng kinh tế từ thế mạnh đặc thù

Là một trong 28 địa phương có biển, nhưng tỉnh Cà Mau lợi thế hơn khi có ba mặt giáp biển, với chiều dài bờ biển hơn 250 km, chiếm 7,8% chiều dài bờ biển cả nước. Nơi đây có một số cụm đảo gần bờ như: Hòn Khoai, Hòn Chuối và Hòn Đá Bạc, thuận tiện cho tàu thuyền trú, tránh, trao đổi hàng hóa, dịch vụ thủy sản...

Vùng biển của tỉnh còn có tiềm năng phát triển du lịch, dầu khí và là một trong bốn ngư trường trọng điểm của cả nước, có trữ lượng lớn và đa dạng các loài hải sản. Để khai thác hiệu quả tiềm năng KTB, Cà Mau tập trung xây dựng một nền kinh tế mạnh về biển; hình thành, bảo tồn, phát huy văn hóa sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn nguy cơ ô nhiễm, suy thoái môi trường, cạn kiệt nguồn lợi tài nguyên…

Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Lê Văn Sử, Cà Mau sẽ quan tâm chỉ đạo thực hiện tám nhóm nhiệm vụ và giải pháp để đạt mục tiêu đề ra. Trong đó, nhóm nhiệm vụ và giải pháp phát triển KTB và ven biển tập trung vào những ngành, lĩnh vực chủ lực, như: Khai thác, nuôi trồng và chế biến hải sản; du lịch và dịch vụ du lịch biển đảo; kinh tế đảo; công nghiệp và dịch vụ ven biển; năng lượng tái tạo và các ngành KTB; phát triển đồng bộ, từng bước hình thành khu kinh tế, khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp, khu đô thị sinh thái ven biển. Bên cạnh đó, triển khai các giải pháp đồng bộ, tăng cường thu hút đầu tư, xây dựng Cảng biển tổng hợp Hòn Khoai, Cảng Năm Căn, Cảng biển Sông Đốc để trở thành địa phương phát triển kinh tế quan trọng của khu vực.

Tương tự, Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng Trần Văn Chuyện cho biết, vùng KTB của Sóc Trăng gồm địa bàn bốn huyện ven biển là: thị xã Vĩnh Châu, huyện Trần Đề, huyện Long Phú và huyện Cù Lao Dung với tổng diện tích tự nhiên 1.188,2 km2, chiếm 35,8% diện tích đất toàn tỉnh. Vùng KTB sẽ chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hình thành khu kinh tế biển mà hạt nhân là cảng biển trung chuyển và hàng hóa xuất nhập khẩu; phát triển và kết nối hệ thống cảng biển, các đô thị, các KCN, khu du lịch - dịch vụ thuộc hành lang, vành đai phát triển theo dọc sông Hậu; hình thành và phát triển một số ngành kinh tế mũi nhọn từ lợi thế biển gồm: Khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản, du lịch biển, công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp năng lượng, nhiệt điện, nâng cao thu nhập bình quân đầu người trong vùng KTB lên cao hơn bình quân của tỉnh.

Trong khai thác, phát triển vùng ven biển, Sóc Trăng chú trọng đến hiệu quả đầu tư, sản xuất sạch, công nghệ cao và sẽ đầu tư phát triển một số ngành, lĩnh vực có vai trò đột phá làm động lực cho cả vùng biển của tỉnh; phát triển một số ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội (KT-XH) bao gồm: Thủy sản sạch, nông nghiệp công nghệ cao, lâm nghiệp, du lịch biển, dịch vụ vùng biển, hệ thống kết cấu hạ tầng, các ngành công nghiệp và KCN gắn với KTB…

Theo ông Mai Anh Nhịn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang, trong Nghị quyết 36 đã chỉ rõ: “Vùng biển và ven biển Tây Nam Bộ, tập trung xây dựng phát triển Phú Quốc thành trung tâm dịch vụ, du lịch sinh thái biển mạnh mang tầm quốc tế; phát triển công nghiệp khí, chế biến khí, điện khí, năng lượng tái tạo, nuôi trồng, khai thác hải sản, dịch vụ hậu cần, hạ tầng nghề cá; kết nối với các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực và thế giới”.

Ngoài ra, Kiên Giang tiếp tục tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng vùng ven biển và hải đảo, ưu tiên các công trình giao thông, điện, nước sinh hoạt. Phát triển mạnh các ngành có lợi thế như: Thương mại, dịch vụ - du lịch, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp đóng tàu, khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản gắn với xây dựng các trung tâm kinh tế, các khu đô thị ven biển, hải đảo. Phát triển các ngành nghề truyền thống và nâng cao đời sống của nhân dân ven biển, hải đảo... Bên cạnh đó, Kiên Giang tăng cường đầu tư, phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển KTB; tiếp tục đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học - kỹ thuật, cán bộ quản lý, các chuyên gia đầu ngành, công nhân lành nghề, bảo đảm đủ số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển KTB.

Ông Huỳnh Hoàng Sơn, Chủ tịch UBND huyện Kiên Hải cho biết, là một huyện đảo nên mọi lĩnh vực trong phát triển kinh tế đều liên quan đến biển. Kiên Hải sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác khai thác và nuôi trồng thủy sản gắn với phát triển sinh thái biển, dưới tán rừng. Tranh thủ nguồn vốn Chương trình Biển Đông - hải đảo đẩy mạnh tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng KT-XH tại Nam Du, An Sơn. Mời gọi doanh nghiệp (DN) có năng lực, kinh nghiệm đầu tư dự án (DA) lấn biển tại hòn Củ Tron (xã An Sơn), đồng thời triển khai DA lấn biển Hòn Ngang (xã Nam Du) nhằm mở rộng không gian phát triển của đảo, giải quyết nhu cầu về đất ở, đất sản xuất, kinh doanh cho nhân dân. Tạo điều kiện cho các DN đầu tư các DA du lịch có quy mô lớn chất lượng cao tại Bãi Cây Mến, Hòn Mấu, Bãi Thiên Tuế… Triển khai thực hiện DA xây dựng đường quanh đảo Hòn Ngang, trung tâm thương mại, bãi xử lý rác và nghĩa trang nhân dân các xã.

Liên kết giữa các địa phương

TS Đặng Kiều Nhân, Viện trưởng Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL (Trường đại học Cần Thơ) cho rằng, khi nói tới ĐBSCL, người ta thường quan tâm tới phần đất liền, có diện tích khoảng 40.000 km2, mà ít chú ý vùng đặc quyền kinh tế biển, bao gồm thềm lục địa và các đảo. KTB là một phạm trù rộng lớn, bao gồm khai thác tài nguyên trực tiếp từ biển, kinh tế dựa vào biển, kinh tế đảo và kinh tế ven biển. Cụ thể, thành phần KTB bao gồm: nuôi trồng và đánh bắt thủy - hải sản, công nghiệp chế biến, công nghiệp cơ khí biển, khoáng sản, năng lượng tái tạo, vận tải và dịch vụ hậu cần, du lịch biển đảo… Do đó, không gian đất liền và không gian biển có mối quan hệ tương hỗ, đặc điểm quan trọng trong phát triển bền vững ĐBSCL.

Trong các quy hoạch của vùng ĐBSCL đều nêu mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển về KTB gắn bảo vệ tài nguyên môi trường biển. Do đó, có thể nói quy hoạch và kế hoạch phát triển KTB của vùng đã có đầy đủ, vấn đề quan trọng là triển khai các quy hoạch, kế hoạch đó thế nào cho có hiệu quả.

“Thường các quy hoạch KT-XH của mỗi tỉnh chỉ quan tâm nhiều đến địa phương mình mà thiếu quan tâm đến các tỉnh chung quanh. Từ đó, quy hoạch thiếu tính đặc thù, trọng tâm và gắn kết giữa các tỉnh để phát huy tính tương hỗ, lợi thế so sánh riêng, để đạt mục tiêu phát triển chung về KTB”, TS Đặng Kiều Nhân nêu.

Thời gian qua, phát triển KTB của vùng gặp những khó khăn như: Chủ yếu khai thác tài nguyên có sẵn, công nghệ khai thác lạc hậu và chủ yếu sản phẩm thô. Để phát triển KTB vùng ĐBSCL nhanh và bền vững, Chính phủ cần dựa trên Quy hoạch xây dựng vùng ĐBSCL và Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng biến đổi khí hậu, điều chỉnh quy hoạch tổng thể KT-XH vùng ĐBSCL, trong đó xác định rõ các lĩnh vực trọng tâm của KTB trong mối quan hệ giữa các tỉnh của hành lang kinh tế ven Biển Đông và ven Biển Tây. Đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông để nối kết hiệu quả giữa bốn trung tâm động lực của vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL, cảng, trung tâm dịch vụ hậu cần và công nghiệp hỗ trợ ở Cần Thơ, cảng và trung tâm dịch vụ hậu cần tiểu vùng để nối kết hiệu quả với cảng Cần Thơ và Long An; hỗ trợ địa phương nâng cấp trang thiết bị và nguồn nhân lực khai thác và chế biến hải sản. Các địa phương trong vùng chủ động liên kết trong tiểu vùng để xác định lợi thế riêng và tính đặc trưng chung của KTB để phân vai, tập trung đầu tư và tổ chức phát triển có hiệu quả, tăng lợi ích chung…

Theo TS Đặng Kiều Nhân, với các lĩnh vực của KTB, không phải tỉnh nào cũng có lợi thế giống nhau, nên cần liên kết để phân vai và tránh trùng lắp, đầu tư dàn trải và cạnh tranh nội bộ. Hơn nữa, không gian đất liền và không gian biển cũng có mối quan hệ về sinh thái và KT-XH mở, cho nên không phải chỉ liên kết các tỉnh ven biển mà còn cần liên kết giữa tỉnh ven biển và tỉnh trong nội địa theo mối liên kết vùng chặt chẽ.