Đẩy nhanh tiến độ thoái vốn nhà nước

THU THỦY

Thứ sáu, 21/02/2020 - 04:57 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Các cơ quan, người đại diện phần vốn nhà nước tại các DN cần bám sát kế hoạch thoái vốn đã được phê duyệt. Ảnh: NAM HẢI

Theo nhiều chuyên gia tài chính, nguyên nhân khiến cho tiến độ thoái vốn nhà nước (TVNN) còn chậm là do quá trình TVNN tại các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cần có nhiều thời gian để xử lý vướng mắc. Đặc biệt, vấn đề xác lập hồ sơ pháp lý đất đai do UBND các địa phương thực hiện chậm, kéo dài thời gian hơn so quy định dẫn đến các DN phải điều chỉnh tiến độ, thậm chí thực hiện lại toàn bộ. Thực tế, yêu cầu về việc tạo nguồn vốn và cơ cấu lại DNNN đã cấp thiết, cho nên công tác TVNN dù khó mấy cũng phải làm.

Kỳ 2: Khó mấy cũng phải làm

(Tiếp theo & hết)

Gỡ bỏ rào cản từ khoảng trống pháp lý

Thực tế, việc chậm quyết toán bàn giao sang công ty cổ phần (CTCP) của các DN thực hiện cổ phần hóa (CPH) đã chuyển sang hoạt động dưới hình thức CTCP, làm ảnh hưởng đến công tác bàn giao và thu nộp các khoản về Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển DN. Việc bàn giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước về Tổng công ty (TCT) Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) còn chậm, chưa bảo đảm kế hoạch theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Bên cạnh đó, nhiều DN chậm đăng ký giao dịch, niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK) làm ảnh hưởng đến tính công khai, minh bạch của thị trường, chậm đổi mới công tác quản trị DN sau cổ phần theo thông lệ và chuẩn mực của các DN trên TTCK, cũng như hạn chế công tác giám sát của toàn xã hội đối với hoạt động của các DN này.

Mặt khác, theo ông Đặng Quyết Tiến, Cục trưởng Tài chính DN, Bộ Tài chính, một trong những tôn chỉ CPH và TVNN là phải thực hiện đúng Luật Đất đai và các luật khác, cho nên khâu chuẩn bị rất quan trọng, DNNN phải làm thường xuyên không phải chỉ đến khi CPH, TVNN mới làm.

Ông Phạm Đức Trung, Trưởng Ban Nghiên cứu cải cách và phát triển DN, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế T.Ư (CIEM) thì cho rằng, có DN trong diện thoái vốn lớn, quy mô lớn hoạt động ở nhiều địa bàn, có đơn vị xuống đến quận, huyện, công tác hoàn chỉnh hồ sơ giấy tờ rất rộng nên gây lúng túng, khó khăn cho DN trong vấn đề đất đai. Mặt khác, bất cập nằm ở khả năng hấp thụ của thị trường, hiệu quả của DN trước CPH… Ngoài những nguyên nhân khách quan, TVNN ì ạch thời gian qua còn xuất phát từ câu chuyện riêng tại mỗi DN. Như trường hợp Mobifone do vướng vụ việc với AVG, nhiều người làm sai, nhiều cá nhân bị kỷ luật dẫn đến chậm trễ. Hay trường hợp TCT Giấy thoái vốn khỏi CTCP Giấy Phương Nam, nhà máy chưa hoạt động, bán đấu giá “ế” nhiều lần, mức định giá không hề rẻ…

Để gỡ nút thắt lớn đang cản trở hoạt động thoái vốn, các DN đề xuất cần bãi bỏ quy định về xác định giá trị các quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm giá trị văn hóa, lịch sử, nhãn hiệu, tên thương mại. Kiến nghị này đã được đáp ứng tại dự thảo nghị định sửa đổi Nghị định 126/2017 về chuyển DNNN và công ty TNHH MTV do nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ thành CTCP và Nghị định số 32/2018, mà Bộ Tài chính đang hoàn tất để dự kiến trình Chính phủ ban hành vào quý I-2020. Theo đó, dự thảo đã bãi bỏ quy định về tính giá trị văn hóa, lịch sử, nhãn hiệu...

Mặt khác, để đẩy nhanh tiến độ TVNN, điều quan trọng đầu tiên, theo đại diện Bộ Tài chính, các cơ quan, người đại diện phần vốn nhà nước tại các DN cần bám sát kế hoạch thoái vốn đã được phê duyệt. Một khi không thực hiện đúng kế hoạch, thì tổ chức, cá nhân đại diện cho phần vốn nhà nước cần công khai nguyên nhân, đồng thời xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm để xảy ra thoái vốn chậm, từ đó truy trách nhiệm rõ ràng, tránh mập mờ như hiện nay.

Tuy nhiên, ông Đặng Quyết Tiến phân tích, Bộ là cơ quan quản lý nhà nước về tài chính, ban hành các chính sách tài chính, chỉ có thể phát hiện những người, DN không chấp hành quy định và đề xuất xử phạt. Bộ Tài chính có nhiệm vụ theo dõi, giám sát chặt chẽ và công bố danh sách những DN chậm thoái vốn, không có quyền xử phạt. Quyền xử phạt theo quy định là của Chính phủ và Chính phủ đã giao Bộ Nội vụ.

Một bất cập khác cũng đang cần cơ quan hoạch định chính sách tháo gỡ là theo quy định hiện nay, khi chuyển nhượng vốn nhà nước đầu tư tại các DN, cơ quan đại diện chủ sở hữu (là các bộ, địa phương) phải căn cứ số tiền thu từ chuyển nhượng và các chi phí liên quan để quyết toán và chuyển tiền thu về Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển DN. Trường hợp thiếu thì đề nghị Bộ Tài chính xuất Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển DN hoàn trả. Thực tế cho thấy, dự toán ngân sách hằng năm của cơ quan đại diện chủ sở hữu là các bộ, địa phương không bố trí nguồn chi hoạt động chuyển nhượng vốn này.

Khi thực hiện chỉ đạo xây dựng phương án chuyển nhượng vốn cũng như thuê tư vấn xác định giá khởi điểm, thuê tổ chức cung cấp dịch vụ đấu giá..., cơ quan đại diện chủ sở hữu đã phải thanh toán một phần tiền cho các tổ chức này và không có nguồn. Mặt khác, có những đơn vị chuyển nhượng vốn nhà nước không thành công đã phải bỏ ra các chi phí và đang đề nghị Bộ Tài chính xuất Quỹ. Trong khi đó, theo Quy chế quản lý Quỹ ban hành kèm theo Quyết định 21/2012/QĐ-TTg, thì nội dung chi khác phải báo cáo Thủ tướng xem xét, quyết định.

Cần quyết liệt hành động

Được biết, theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến hết năm 2018, có 855 DN có vốn nhà nước. Tổng vốn nhà nước đang đầu tư tại 855 DN là 1,53 triệu tỷ đồng; trong đó, DNNN là 1,36 triệu tỷ đồng và DN có vốn nhà nước là 164.134 tỷ đồng. Về thoái vốn, trong năm 2019, có 13/135 DN thuộc danh mục ban hành theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg (QĐ 1232) của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt danh mục DN có vốn nhà nước thực hiện thoái vốn giai đoạn 2017 - 2020, thực hiện thoái vốn với giá trị 896 tỷ đồng, thu về 1.839 tỷ đồng.

Gánh nặng này không chỉ nằm ở số lượng công việc mà các đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước sẽ phải làm, mà còn ở kết quả việc thực hiện. Một bài tính rất rõ ràng được đưa ra khi ban hành QĐ 1232. Đó là tổng nguồn thu dự kiến sau khi thực hiện QĐ 1232 là 60.000 tỷ đồng sẽ về ngân sách vào giai đoạn 2016 - 2020, phục vụ đầu tư trung và dài hạn theo Nghị quyết 26/2016/QH14 của Quốc hội.

Phải nói thêm, khi ban hành QĐ 1232, thông điệp được đưa ra là số DN trong danh mục là con số tối thiểu, các bộ, ngành, địa phương được quyền chủ động bổ sung DN thực hiện thoái vốn sớm hơn kế hoạch trong từng năm, hoặc đề xuất vào danh mục. Điều đó có nghĩa, số ngân sách thu được dự kiến cũng là con số tối thiểu. Thực tế, năm 2019, chỉ có 13 lượt DN trong số 57 DN thuộc danh sách thoái vốn trong năm theo QĐ 1232. Nếu tính cả ba năm, từ năm 2017 đến 2019, thì có 92 lượt trong tổng số 314 DN phải thực hiện thoái vốn. Số tiền thu về là 8.964 tỷ đồng, chỉ bằng… 15% so kế hoạch.

Trong báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc chuyển tiền từ Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển DN về ngân sách nhà nước, từ năm 2016 đến quý III-2019, số tiền đã chuyển là 205.000 tỷ đồng trong tổng số 250.000 tỷ đồng (đạt 82% kế hoạch). Trong giai đoạn 2016 - 2019, phần thu được từ thoái vốn chủ yều từ các DN nằm ngoài QĐ 1232, với tổng số khoảng 170.629 tỷ đồng, trong đó 110.392 tỷ đồng, bao gồm việc thoái vốn tại Sabeco năm 2017 với số tiền thu về là 109.965 tỷ đồng; gần 52.000 tỷ đồng khác do các tập đoàn, TCT nhà nước thực hiện thoái vốn, gồm cả SCIC thoái vốn tại Vinamilk...

Có thể thấy, để hoàn thành kế hoạch, phần lớn nguồn tiền còn lại sẽ trông vào việc thực hiện TVNN trong các DN trong năm 2020. Nhưng theo TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng CIEM, những khó khăn về thủ tục, trình tự, các quy định về định giá… có thể khiến CPH chậm trễ, nhưng TVNN có thể làm ngay vì đã có giá thị trường. Hơn thế, việc thực hiện đúng tiến độ TVNN không chỉ để bảo đảm các kế hoạch, trong đó có cả kế hoạch thu ngân sách, mà còn tháo gỡ rào cản cho chính các DN. TVNN chậm dẫn tới nhà nước phải duy trì cổ phần tại DN không thuộc diện cần nắm giữ cổ phần, làm khó cho chính các DN này trong xác định chiến lược phát triển dài hạn cũng như làm khó các DN nhà nước khi nguồn lực chưa được phân bổ hiệu quả, đúng chỗ.

Ông Đặng Quyết Tiến cũng thẳng thắn nêu rõ, bên cạnh một số nguyên nhân khách quan thì nguyên nhân chủ quan vẫn là một số bộ, ngành, địa phương, TĐ kinh tế, TCT nhà nước chưa thật sự nghiêm túc triển khai kế hoạch CPH, thoái vốn, cơ cấu lại DNNN theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và chấp hành chế độ báo cáo. Vai trò, nhận thức, trách nhiệm của người đứng đầu DN, đơn vị còn chưa cao, chưa quyết liệt trong việc đổi mới hoạt động của DN, công khai minh bạch, đúng quy định pháp luật, bảo đảm nguyên tắc thị trường, chống lợi ích nhóm trong TVNN. Thực tế, yêu cầu về việc tạo nguồn vốn và cơ cấu lại DNNN đã cấp thiết, cho nên dù khó mấy cũng phải làm.