Tìm mô hình thích hợp quản lý kinh tế chia sẻ

ĐẶNG THÀNH

Thứ tư, 16/10/2019 - 02:39 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Mô hình kinh tế chia sẻ đang gây ra nhiều tranh cãi, thách thức đối với các nhà quản lý. Ảnh: NAM ANH

Kinh tế chia sẻ (KTCS) là mô hình kinh doanh mới mang lại nhiều giá trị cho nền kinh tế, lợi ích cho xã hội và người tiêu dùng (NTD). Tuy nhiên, mô hình này đang gây ra nhiều tranh cãi, thách thức cho các nhà quản lý. Theo các chuyên gia, cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) cần phải thay đổi tư duy, chấp nhận cái mới, đồng thời cho phép thử nghiệm các mô hình tiên phong, thay vì tư tưởng không quản được thì cấm.

Theo các chuyên gia, KTCS hiện diện hằng ngày trong đời sống người dân. Ngay cả khi chưa nghe đến thuật ngữ “KTCS”, nhiều NTD vẫn đang sử dụng dịch vụ này hằng ngày như: đi lại bằng GrabBike, Go-Viet, Bee… hay gọi thức ăn qua GrabFood, Now, Foody… Tuy nhiên, KTCS đang gây ra nhiều tranh cãi, thách thức không chỉ riêng với các nhà quản lý mà còn cả giới học thuật trong việc luận giải bản chất, phân loại hàng hóa, dịch vụ. Rào cản đầu tiên cho các doanh nghiệp (DN) kinh doanh mô hình chia sẻ có liên quan hay kết hợp công nghệ tài chính điện tử chính là thói quen giao dịch chủ yếu bằng tiền mặt của người Việt Nam, thẻ tín dụng vẫn chưa được phổ biến rộng rãi trên toàn quốc. Sẽ mất một thời gian dài để thay đổi thói quen tiêu dùng này.

Tại Hội thảo “Đẩy mạnh triển khai thực hiện đề án thúc đẩy mô hình KTCS”, đưa ra thí dụ về “chợ người lao động Giảng Võ” ở Hà Nội, Trưởng phòng Pháp luật Kinh tế (Viện Nhà nước và Pháp luật) Ngô Vĩnh Bạch Dương cho rằng, đó chính là KTCS. Tuy nhiên, hiện nay, thay vì ra đó, một số trang web đã viết ứng dụng kết nối với các lao động và cung cấp cho người có nhu cầu. Người làm ra “chợ” có quyền được thu phí theo những cách thức khác nhau. Bản chất của hoạt động này chưa được phân biệt rõ ràng, cơ quan QLNN vẫn nhầm lẫn giữa KTCS và kinh tế nền tảng (KTNT), do đó chưa có cách quản lý thích hợp từng đối tượng.

Sự lúng túng và sai lầm trong nhận thức về KTCS và KTNT sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy. Chẳng hạn, những tranh cãi về “thân phận” của các hãng cung cấp dịch vụ đặt xe cũng như những lái xe sử dụng dịch vụ đến nay vẫn chưa chấm dứt. Nếu làm rõ được điều này, Nhà nước sẽ áp dụng các điều kiện kinh doanh (ĐKKD) tương ứng. Đồng thời, cũng sẽ mang lại thuận lợi hơn cho công tác quản lý, đặc biệt là quản lý thuế, chẳng hạn người trực tiếp vận tải sẽ nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT) vận tải và thuế thu nhập trên cơ sở doanh thu được phân chia, còn đơn vị cung cấp dịch vụ kết nối sẽ nộp thuế GTGT thương mại điện tử (TMĐT) và thuế thu nhập DN tương ứng…

Theo ông Ngô Vĩnh Bạch Dương, điều này thật ra không quá quan trọng. Việc hiểu các ứng dụng như Uber, Grab hay Fastgo, Me, Mygo và VATO là một khâu của dịch vụ vận tải cũng không có gì sai. Ai đó có thể chọn một hay một số công đoạn của dịch vụ vận tải để đầu tư một cách chuyên nghiệp là quyền tự do kinh doanh của họ.

Hay đối với các hoạt động cho vay ngang hàng (P2P), TS Phạm Xuân Hòe, Phó Viện trưởng Chiến lược NH cho biết, hình thức này đang hoạt động theo mô hình kinh tế. Đây là lĩnh vực mang lại nhiều cơ hội nhưng tiềm ẩn không ít thách thức. Do đó, cần phải bổ sung các hoạt động P2P vào lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, làm rõ trách nhiệm của nhà đầu tư và người vay trong hoạt động của công ty P2P, cũng như các điều khoản sử dụng, hợp đồng trước khi vay và trong quá trình cho vay.

Lấy thí dụ về việc quản lý kê khai thuế và thu thuế đối với Grab hay “cuộc chiến” giữa Grab với taxi truyền thống đến nay vẫn chưa kết thúc. Ông Ngô Vĩnh Bạch Dương cho biết, hiện tại, thuế suất GTGT dành cho TMĐT của Việt Nam là 10%, cao hơn mức 5% của vận tải hành khách. Nếu coi các ứng dụng gọi xe là vận tải thì những DN cung cấp ứng dụng gọi xe có thể được hưởng lợi nhiều hơn, mặc dù “tính chất vận tải” ít hơn nhiều so “tính chất TMĐT” trong hoạt động của ứng dụng. Hiện tại, KTCS mới chỉ được thừa nhận sẽ thúc đẩy chứ chưa hề có những ưu đãi về lợi ích kinh tế. Do đó, trong việc xây dựng chính sách ưu đãi cần nhất quán xác định tư cách trung gian của nền tảng với người trực tiếp tham gia hoạt động chia sẻ để tránh trục lợi. Chính phủ nên tiếp cận theo hướng cởi bỏ các ĐKKD thay vì áp dụng các ĐKKD gò bó của mô hình kinh doanh truyền thống lên các mô hình kinh doanh đổi mới, sáng tạo. Trong quá trình quản lý các nền tảng, Nhà nước cần chú trọng, xem xét các điều kiện giao dịch chung, đặc biệt trong việc phân định trách nhiệm các bên để bảo vệ quyền lợi của NTD và bảo vệ các đối tác yếu thế trong giao dịch.

Về vấn đề này, Phó Viện trưởng Nghiên cứu quản lý kinh tế T.Ư (CIEM) Nguyễn Thị Tuệ Anh cho rằng, thực tế, sự phát triển của các dịch vụ theo mô hình KTCS tại Việt Nam thời gian qua còn mang tính tự phát. Mục tiêu của Đề án là tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng giữa hoạt động KTCS và kinh tế truyền thống. Đồng thời, khuyến khích đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ số và phát triển kinh tế số. Trong khi đó, cơ quan QLNN lại khá lúng túng trong việc xác định bản chất và cách thức quản lý mô hình này. Các cơ quan QLNN cần phải thay đổi tư duy, chấp nhận cái mới, đồng thời cho phép thử nghiệm các mô hình tiên phong, thay vì tư tưởng không quản được thì cấm, nên dỡ bỏ các rào cản pháp lý không còn phù hợp.