Doanh nghiệp cần chủ động hội nhập

QUỐC BÌNH

Thứ tư, 17/07/2019 - 05:14 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Các doanh nghiệp dệt - may được đánh giá là sẽ được hưởng nhiều ưu đãi từ EVFTA. Ảnh: LAM ANH

Trong nhiều năm qua, Liên hiệp châu Âu (EU) luôn được coi là một thị trường đầy tiềm năng với các doanh nghiệp (DN) dệt - may Việt Nam. Tuy nhiên, việc các hiệp định thương mại tự do (FTA) có hiệu lực quá gần nhau, trong khi khả năng hấp thụ, tận dụng cơ hội hạn chế có thể sẽ khiến các DN đứng trước nguy cơ “bội thực” FTA và đi kèm những hệ lụy khó lường.

Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu (XK) hàng dệt - may Việt Nam ra thế giới năm 2018 đạt 36 tỷ USD, nhưng XK sang thị trường EU chỉ chiếm chưa đến 12%. Khi được hưởng ưu đãi từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), thuế nhập khẩu (NK) hàng dệt - may vào EU sẽ giảm theo lộ trình, sau bảy năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực sẽ về 0% đối với phần lớn các mặt hàng. Điều này tạo ra sức cạnh tranh lớn cho hàng dệt - may Việt Nam khi XK vào EU.

Ông Phí Ngọc Trịnh, Tổng Giám đốc Công ty CP Tập đoàn Hồ Gươm cho biết, các DN dệt - may được đánh giá là sẽ được hưởng nhiều ưu đãi từ EVFTA. Tuy nhiên, vẫn có những lo ngại khi Hiệp định được thông qua, các DN nói chung và DN dệt - may nói riêng sẽ phải cạnh tranh bình đẳng và sòng phẳng không chỉ với các DN nước ngoài, các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), mà còn phải cạnh tranh giữa các DN Việt Nam với nhau để tồn tại và phát triển.

Mặt khác, quy tắc xuất xứ (QTXX) trong EVFTA “thoáng” hơn so Hiệp định Ðối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), một FTA thế hệ mới, là xuất xứ từ vải và được phép cộng dồn cả vải của các nước đã từng ký FTA với EU như Hàn Quốc. Tuy nhiên, ngành dệt - may cũng chưa được hưởng lợi nhiều ngay lập tức. Hiện, phần lớn vải và các phụ liệu khác đang phải NK từ Trung Quốc, ASEAN - những thị trường chưa ký được FTA với EU. Việt Nam vẫn phải chờ ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành dệt - may phát triển. Chưa kể, Việt Nam sẽ trở thành nơi trung chuyển hàng hóa, khi EVFTA có hiệu lực, hàng dệt - may của Việt Nam được hưởng các ưu đãi về thuế quan rất lớn. Các mặt hàng thuế về 0% thay bằng 9,6% bình quân như hiện nay. Các nước không có hiệp định với EU sẽ tranh thủ cơ hội này để chuyển hàng hóa sang Việt Nam để làm thủ tục xuất đi EU thay bằng xuất đi từ chính các nước đó. Như vậy, giá trị gia tăng Việt Nam sẽ không được hưởng lợi như đúng tinh thần của Hiệp định mang lại.

Không riêng EVFTA, đánh giá một cách tổng thể, ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Chính sách Thương mại đa biên (Bộ Công thương) bày tỏ lo lắng, đầu năm 2019, CPTPP chính thức có hiệu lực, đầu năm 2020, khả năng EVFTA có hiệu lực, chưa kể các FTA trước đó đã được thực thi. Như vậy, cùng lúc nhiều FTA đến Việt Nam. Điều này giống với việc có nhiều thang thuốc bổ vào cơ thể nhưng cơ thể khỏe mới hấp thụ tốt, còn yếu thì thuốc tác dụng ngược. Bài học khi tham gia WTO còn đó, năm 2007, Việt Nam có nhiều cơ hội, thu hút dòng vốn FDI lớn. Tuy nhiên, cuối cùng không có đủ khả năng hấp thụ, dẫn tới “bong bóng” tài chính, bất động sản xảy ra.

Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Nguyễn Thị Thu Trang thì cho rằng, nếu DN thấy cơ hội chắc chắn họ sẽ tham gia. EVFTA sẽ giúp Việt Nam tăng trưởng kim ngạch XK. Tuy nhiên, đây chỉ là tính toán trên suy đoán rằng Việt Nam có thể tận dụng được tất cả cơ hội, còn thực tế tận dụng cơ hội đến đâu lại là chuyện khác. Năm 2018, trung bình tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan theo các FTA của DN Việt Nam chỉ là 39%. Nói cách khác trong 10 cơ hội, DN chỉ tận dụng được bốn cơ hội. Đây là câu chuyện thương mại hàng hóa, chưa nói tới thương mại dịch vụ và thể chế. Có đến 84% số DN nói rằng thiếu thông tin về FTA, một phần do Bộ Công thương chưa có đầu mối thông tin, đồng thời bản thân DN cũng chưa chủ động tìm hiểu.

Về phía Bộ Công thương, theo ông Ngô Chung Khanh, điều đáng lo ngại nhất là sự chủ động ứng phó hội nhập. Đầu năm 2019, khi CPTPP có hiệu lực, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định thực thi CPTPP, yêu cầu các bộ, ngành, cơ quan xây dựng kế hoạch hành động gửi về Bộ Công thương tổng hợp, song đến ngày 12-4, Bộ vẫn chưa nhận được đầy đủ báo cáo. Cùng với đó, DN vẫn chưa có sự chủ động tìm hiểu thông tin. Riêng với EVFTA, vừa qua, Bộ Công thương có nhận được một số câu hỏi của DN đề nghị mã số HS của mặt hàng nào có thuế về 0%, QTXX của mặt hàng như thế nào. Tuy nhiên, DN không hiểu rằng, biết được QTXX không có nghĩa ngay ngày mai DN bán được hàng sang EU, mà còn nhiều quy định khác như hàng rào kỹ thuật. Đặc biệt, DN do người Việt Nam sở hữu có mức độ tận dụng QTXX trong CPTPP nói riêng và các FTA nói chung không nhiều. Câu hỏi mà Bộ Công thương nhận được chủ yếu là của DN FDI. Tại sao chúng ta cứ kêu DN FDI được lợi mà không thấy sự chủ động của họ rất giỏi? Đây là điều DN Việt Nam phải nhìn lại, xem mình đã chủ động chưa. Vấn đề này được nêu rất nhiều nhưng tiến triển không đáng kể.

Để nâng cao kiến thức về FTA, ông Ngô Chung Khanh cho rằng, nó giống như việc học tập phải từ hai phía là thầy giáo nhiệt tình, có kiến thức tốt và học sinh cũng phải chăm chú lắng nghe. Mặt khác, thời gian qua, các hội thảo về FTA quá nhiều nhưng thường ở mức độ chung chung. DN đến hội thảo nhận được thông tin mang tính chất chiến lược, lợi ích, cơ hội tổng thể nhưng hội thảo tập huấn, hướng dẫn DN về thuế, QTXX, hướng dẫn từ lúc xuất hàng đi đến khi thu tiền về rất ít. Và vấn đề cuối cùng vẫn là sự chủ động của DN.