Rộng mở thị trường trong các FTA

THU THỦY, ĐẶNG THÀNH

Chủ nhật, 07/07/2019 - 09:36 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Nhiều mặt hàng nhập khẩu đang cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm nông nghiệp trong nước. Ảnh: NAM ANH

Các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) hay FTA Việt Nam - EU (EVFTA) có hiệu lực sẽ đem tới cơ hội xuất khẩu (XK) rất lớn cho hàng hóa Việt Nam, đặc biệt là sản phẩm nông nghiệp. Tuy nhiên, không phải tất cả đều là bức tranh mầu hồng, không ít thách thức to lớn cũng dành cho khu vực này.

Kỳ 2: Lường trước sức ép từ các FTA

(Tiếp theo & hết)

Nguy cơ đánh mất lợi thế trên sân nhà

Ngành nông nghiệp phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu (NK) do hàng rào thuế dần được cắt giảm trong khi Việt Nam khó sử dụng hàng rào phi thuế như một biện pháp bảo hộ do năng lực về pháp lý, bằng chứng khoa học hạn chế. Điều này dẫn tới nguy cơ cao đánh mất thị trường (TT) trong nước.

Một trong những lo ngại đó là nhiều sản phẩm nông nghiệp có nguy cơ đánh mất lợi thế trên sân nhà. Phó Viện trưởng Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp - nông thôn Trần Công Thắng nhận định, sau khi CPTPP, EVFTA có hiệu lực, cơ hội rất lớn đi kèm với nhiều thách thức lớn cho doanh nghiệp (DN) Việt Nam.

Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Nguyễn Xuân Cường cảnh báo, sự gia tăng cạnh tranh với hàng hóa NK đến từ các nước có lợi thế hơn, trình độ phát triển cao hơn, do hàng rào thuế quan dần được cắt giảm, trong khi Việt Nam khó sử dụng hàng rào phi thuế như một biện pháp bảo hộ do năng lực về pháp lý, bằng chứng khoa học hạn chế. Điều này dẫn tới nguy cơ bị thu hẹp TT trong nước khi mà nông sản từ các nước Australia, New Zealand hay Nhật Bản… đều có chất lượng cao, thương hiệu mạnh và giá cả cạnh tranh. Ngoài ra, nhiều mặt hàng nông sản XK của Thái-lan đang có cả hai lợi thế này so Việt Nam và hiện đang thâm nhập mạnh vào TT trong nước. Áp lực cạnh tranh sẽ làm một số ngành có thể bị thu hẹp sản xuất như chăn nuôi và mía đường.

Trên thực tế, hiện nay, nhiều sản phẩm nông nghiệp thuộc các nước CPTPP, EU đang dần chiếm lĩnh sự tin tưởng của người tiêu dùng (NTD) Việt Nam. Theo Bộ NN&PTNT, giá trị mặt hàng rau quả NK trong 5 tháng đầu năm 2019 đạt 878 triệu USD, tăng 46% so cùng kỳ năm trước.

Cục Chế biến và Phát triển TT nông sản (Bộ NN&PTNT) cũng dự báo, mặt hàng trái cây sẽ còn tiếp tục được NK nhiều hơn khi thuế suất NK được cắt giảm, bãi bỏ. Thực tế, trong bốn tháng đầu năm 2019, Việt Nam đã chi một tỷ USD để NK các sản phẩm chăn nuôi gồm thịt gà, lợn, bò, phụ phẩm…

Phó Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam Bộ Nguyễn Văn Ngọc cho rằng, nếu mở cửa cho thịt NK tràn vào sẽ là một đòn giáng mạnh vào nông dân vốn đã kiệt quệ do dịch tả lợn châu Phi gây ra. Một khi thịt NK chiếm lĩnh TT trong nước, ngành chăn nuôi sau dịch bệnh sẽ rất khó hồi phục.

Trong khi đó, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang Dương Văn Thái cho biết, hiện nay, Bắc Giang có hai sản phẩm chăn nuôi chủ đạo là thịt lợn và thịt gà. Trong đó, đàn lợn có hơn 1,1 triệu con, đứng thứ tư về tổng đàn của cả nước; đàn gà có 17 triệu con, đứng thứ ba cả nước. Bởi vậy, nếu đầu ra bị ảnh hưởng, người nông dân chắc chắn sẽ lâm vào cảnh khó khăn. Các sản phẩm nông sản của Bắc Giang đang bị cạnh tranh bởi nhiều sản phẩm thay thế khác, trong cùng thời điểm mà các quốc gia tham gia FTA với Việt Nam có lợi thế. Mặt khác, các nước này có trình độ khoa học - công nghệ sau thu hoạch, công nghệ chế biến tốt hơn, có lợi thế cạnh tranh cao hơn.

Chủ động thay đổi và tích cực chuẩn bị

Bên cạnh những lợi ích, các FTA đều có thể tạo ra một số thách thức nhất định đối với nền kinh tế Việt Nam. Trong đó, Việt Nam cũng sẽ phải cam kết mở cửa TT với hàng hóa, dịch vụ tạo ra sức ép cạnh tranh cho nền kinh tế, DN và hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam. Vì vậy, Bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh cho rằng, để khai thác được tối đa lợi ích mà các FTA mang lại, các DN, đặc biệt là các DNNVV, cần chủ động nghiên cứu thông tin để có sự chuẩn bị tích cực. Việc chuẩn bị nên được tiến hành toàn diện từ nghiên cứu cơ hội, thách thức của TT đến các giải pháp như nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm; phát huy lợi thế cạnh tranh, tăng hiệu suất...

Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Phạm S, trình độ chăn nuôi của các nước trong khối CPTPP như: Australia, Canada, Nhật Bản… hoặc các nước khối EVFTA như Pháp, Hà Lan, Đức phát triển hơn Việt Nam rất nhiều. Nếu các DN ngành chăn nuôi của Việt Nam không nhanh chóng, linh hoạt chuyển đổi thì kết cục xấu như thua lỗ, phá sản là khó tránh khỏi. Ngành nông nghiệp cần cân bằng giữa việc tập trung phát triển TT trong nước và quốc tế, phát triển các kênh phân phối, bảo đảm yêu cầu về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP), từng bước xây dựng thương hiệu mạnh.

Riêng đối với TT trong nước, NTD Việt đang có nhu cầu lớn đối với sản phẩm chất lượng, có thương hiệu. Ông Trần Công Thắng đề xuất, Chính phủ nghiên cứu, rà soát xây dựng các hàng rào VSATTP và các biện pháp kỹ thuật hợp lý và cao hơn để bảo hộ sản xuất trong nước và bảo vệ NTD. Đồng thời, thúc đẩy hài hòa hóa tiêu chuẩn và công nhận tương đương. Trong đó, rà soát và tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành đối với các nông sản phù hợp và tham chiếu các tiêu chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, tăng cường cơ chế trao đổi thông tin, đàm phán giữa cơ quan liên quan các nước để thúc đẩy hài hòa hóa tiêu chuẩn và công nhận tương đương trong công tác kiểm dịch động thực vật, VSATTP và các hàng rào kỹ thuật, đồng thời xử lý các vướng mắc có liên quan.

Ngoài ra, tăng cường giám sát, quản lý nông sản lưu thông trong nước, nâng dần tiêu chuẩn bắt buộc về chất lượng trong nước ngang tầm quốc tế làm cơ sở cho việc nâng dần hàng rào các biện pháp VSATTP, kiểm dịch động vật (SPS) và các rào cản kỹ thuật đối với nông sản NK. Cần định hướng sản xuất và có chính sách hỗ trợ phù hợp các ngành hàng yếu thế, dễ tổn thương; có giải pháp hỗ trợ thúc đẩy ngành có lợi thế như thông tin TT, xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư của DN Việt Nam ra nước ngoài.

Theo các chuyên gia, để áp dụng các rào cản kỹ thuật đối với sản phẩm nông nghiệp NK, trước hết ở TT trong nước, các bộ, ngành, địa phương cần chỉ đạo sản xuất quyết liệt áp dụng các tiêu chuẩn VSATTP, sản xuất có chứng nhận chất lượng sản phẩm như: GlobalGAP, VietGAP, VietGAHP, Organic… nhằm bảo đảm chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của TT. Việt Nam cần phải thay đổi về nhận thức, tư duy trong hội nhập, đồng thời cải cách thể chế và chính sách để tạo thuận lợi thúc đẩy môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư và bảo đảm tuân thủ các cam kết. Cách tiếp cận và thực hiện phải hướng tới phát triển bền vững cả về kinh tế - xã hội - môi trường, không đánh đổi về môi trường để lấy kinh tế.

Bộ trưởng NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường đánh giá, Chính phủ nước nào cũng quan tâm hàng rào kỹ thuật để bảo vệ quyền lợi chính đáng của NTD. Đương nhiên, Việt Nam sẽ xây dựng hàng rào đó nhưng thực hiện một cách bình đẳng nhất, minh bạch nhất, cố gắng đồng bộ nhất. Phải xem 100 triệu dân TT trong nước cũng như tại TT XK, sản phẩm sản xuất ra phải bảo đảm yêu cầu của TT, trước hết phải ưu tiên hàng tốt phục vụ đất nước.

Theo Bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh, trong hội nhập, không phải tất cả đều là bức tranh mầu hồng. Rất nhiều áp lực, thách thức đặt ra cho cộng đồng DN, người nông dân và thành tố trong xã hội. Do đó, đòi hỏi vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước, các bộ, ban, ngành trong việc xây dựng chính sách và thực thi pháp luật để bảo đảm hiệu quả cho người dân, cộng đồng DN. Cần có sự vào cuộc của các địa phương, nhóm ngành hàng để Bộ Công thương, Bộ NN&PTNT, các bộ, ngành khác có điều kiện tiếp cận để bàn thảo, thảo luận các công việc cần triển khai, trách nhiệm của mỗi bên. Bộ Công thương sẽ là đầu mối của Chính phủ trong việc kiểm tra, đôn đốc thực hiện các FTA, với tinh thần tương tác hai chiều, lắng nghe nhiều chiều cả tích cực, hạn chế và bất cập, từ đó có giải pháp kịp thời, hiệu quả.