Bảo đảm chỉ tiêu an toàn nợ công

NGUYỄN HÙNG

Thứ tư, 12/06/2019 - 07:39 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Nhiều dự án đầu tư công đi vào hoạt động mang lại lợi ích thiết thực cho xã hội. Ảnh: NAM HẢI

Nợ công tính đến ngày 31-12-2018 của Việt Nam ở mức 58,4% GDP, bảo đảm trong giới hạn Quốc hội (QH) quyết định và thấp hơn mức dự kiến tại Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 1-1-2018 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) và dự toán ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2018.

Theo thông tin do Bộ Tài chính công bố tại cuộc họp báo chuyên đề “Tình hình nợ công 2018”, căn cứ dữ liệu quản lý chuyên ngành của cơ quan này, dự kiến nợ công năm 2018 là 58,4% GDP; nợ Chính phủ là 50% GDP. Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ/Thu ngân sách là 15,9%. Nợ nước ngoài quốc gia là 46% GDP... Trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch vay, trả nợ và các hạn mức nợ, Bộ Tài chính dự kiến các chỉ tiêu nợ đến cuối năm 2018 như sau: Nợ công ở mức 3.232.411 tỷ đồng, bằng 58,4% GDP. Trong đó: nợ chính phủ ở mức 2.767.229 tỷ đồng, bằng 50% GDP; nợ được Chính phủ bảo lãnh ở mức 437.372 tỷ đồng, bằng 7,9% GDP; nợ chính quyền địa phương khoảng 52.391 tỷ đồng, bằng 0,9% GDP. Nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 2.548.418 tỷ đồng, khoảng 46% GDP. Các chỉ tiêu nợ đều thấp hơn mức dự kiến tại Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 1-1-2018 của Chính phủ và báo cáo QH số 46/BC-CP ngày 19-10-2018 của Chính phủ. Các mức dư nợ đều thấp hơn quy định trong kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm giai đoạn 2016 - 2020.\

Đạt được những mục tiêu trên, theo phân tích của Bộ Tài chính là nhờ bốn nguyên nhân. Thứ nhất, nền tảng vĩ mô khởi sắc, tăng trưởng GDP vượt kế hoạch và đạt mức cao nhất trong 11 năm qua. Thứ hai, điều hành chính sách tài khóa đạt được nhiều thành quả khả quan, thu cân đối NS ước vượt 7,8% so dự toán, dự kiến bội chi NSNN thấp hơn so dự toán là 3,7% GDP, qua đó giảm nhu cầu huy động vốn vay của Chính phủ. Thứ ba, giải ngân vốn ODA, ưu đãi nước ngoài chậm hơn dự kiến và biến động tỷ giá được kiểm soát tốt đã góp phần giảm quy mô nợ nước ngoài của Chính phủ khi quy ra đồng Việt Nam. Thứ tư, kiểm soát chặt chẽ các khoản bảo lãnh của Chính phủ, không cấp bảo lãnh mới cho doanh nghiệp vay trong nước và khuyến khích người vay trả nợ trước hạn dẫn đến giảm dư nợ bảo lãnh nước ngoài.

Mặc dù quy mô danh mục nợ Chính phủ được kiểm soát tốt nhưng cùng với ảnh hưởng của việc Việt Nam tốt nghiệp IDA kể từ năm 2017, các chỉ tiêu chi phí, rủi ro danh mục nợ Chính phủ, đặc biệt là nợ nước ngoài, có xu hướng kém thuận lợi hơn trước đây. Cụ thể, rủi ro tái cấp vốn tập trung vào các khoản nợ trong nước của Chính phủ do nghĩa vụ trả nợ đến hạn tập trung cao vào một số năm (9,3% danh mục nợ trong nước của Chính phủ sẽ đến hạn năm 2019; 32,7% sẽ đến hạn trong giai đoạn 2019-2021), điều này sẽ tác động đến việc bố trí nguồn trả nợ trong cân đối NSNN. Đối với danh mục nợ nước ngoài của Chính phủ, trong 5 năm tới các khoản vay ODA sẽ giảm dần, tiến đến kết thúc, nhiều nguy cơ dẫn đến thiếu hụt nguồn vốn vay dài hạn, ưu đãi cho đầu tư. Thay vào đó, Chính phủ cần huy động các khoản vay mới với điều kiện kém ưu đãi hơn nhiều, sát với thị trường để bù đắp thiếu hụt cho cân đối NSNN và đầu tư công trung hạn.

Rủi ro lãi suất danh mục nợ nước ngoài có xu hướng gia tăng do tỷ trọng các khoản vay có lãi suất thả nổi tăng. Tuy nhiên, nhìn chung mặt bằng lãi suất bình quân nợ nước ngoài của Chính phủ vẫn duy trì ở mức thấp (2,0%/năm) do trên 96% khoản vay nước ngoài có điều kiện ODA, vay ưu đãi.

Đối với nợ trong nước, lãi suất bình quân gia quyền của danh mục nợ tính đến cuối năm 2018 ở mức 5,8%/năm, giảm đáng kể so mức 6,6%/năm vào năm 2015. Tuy nhiên, do quy mô thị trường trái phiếu còn nhỏ, trong khi tiềm lực tài chính của các tổ chức tài chính phi ngân hàng còn hạn chế, việc tập trung phát hành trái phiếu Chính phủ (TPCP) kỳ hạn dài là tương đối khó khăn. Ngoài ra, việc không phát hành TPCP kỳ hạn ngắn dưới 5 năm cũng dẫn đến đường cong lãi suất chuẩn không đầy đủ, thiếu lãi suất ngắn hạn tham chiếu cho thị trường vốn.

Phó Cục trưởng Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) Võ Hữu Hiển cho biết, trong các giải pháp tăng cường quản lý nợ công, bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững phải xác định nhiều yếu tố. Chẳng hạn như bảo đảm huy động vốn để phục vụ phát triển; lựa chọn chi phí phù hợp, hạn chế rủi ro; bảo đảm chi tiêu an toàn nợ công và cuối cùng là hướng đến phát triển thị trường vay vốn trong nước và thị trường TPCP, hạn chế các khoản vay nước ngoài để không ảnh hưởng đến an ninh tài chính quốc gia.

Riêng về cấp bảo lãnh Chính phủ (BLCP), ông Võ Hữu Hiểu cho biết, đã được thực hiện chặt chẽ từ đầu bằng những quy định pháp lý chặt chẽ, bảo đảm giới hạn nợ vay an toàn và khả năng trả được nợ, không tăng thêm gánh nặng cho nợ công. Việc cấp BLCP được ưu tiên cho các dự án có tầm quan trọng đặc biệt cho phát triển KT-XH của đất nước. Cụ thể, qua thống kê cho thấy, trong năm 2018, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã huy động thông qua phát trái phiếu được 16.545 tỷ đồng, bằng 95% kế hoạch phát hành năm 2018, với 74,3% khối lượng phát hành có kỳ hạn từ 5 năm trở lên. Còn Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam huy động được 9.670 tỷ đồng, bằng 100% hạn mức phát hành năm 2018, với 71% khối lượng phát hành có kỳ hạn từ 5 năm trở lên. Đến ngày 31-12-2018, dư nợ trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh của hai ngân hàng này là 157.738 tỷ đồng, giảm 4,8% so cuối năm 2017.