Kỷ niệm 129 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 - 19-5-2019)

50 năm thực hiện Di chúc Bác Hồ

TS CHU ĐỨC TÍNH - NGUYÊN GIÁM ĐỐC BẢO TÀNG HỒ CHÍ MINH

Thứ bảy, 18/05/2019 - 06:39 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Người dân tìm hiểu Di chúc của Bác tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Di chúc Bác viết vào dịp sinh nhật của mình trong suốt 5 năm trời, khi còn rất minh mẫn, sáng suốt. 5 năm Bác trăn trở, suy nghĩ kỹ càng, viết đi, viết lại, sửa chữa, bổ sung… Do vậy, bản Di chúc tuy ngắn gọn nhưng súc tích, hầu như đã chứa đựng toàn vẹn: không thiếu việc gì, không sót một ai.

1. Là người sáng lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời chăm lo cho việc xây dựng Đảng, bảo đảm cho Đảng đủ điều kiện và sức mạnh lãnh đạo toàn dân tộc. Điều đầu tiên Bác nhắc tới trong Di chúc là nói về Đảng. Người đánh giá cao vai trò tổ chức và lãnh đạo của Đảng trong lịch sử và hiện tại, đồng thời chỉ rõ: Điều làm nên sức mạnh của Đảng là sự Đoàn kết, phải “giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình” (1). Bác nhắc các nguyên tắc sống còn của xây dựng Đảng là: Tập trung Dân chủ, là Tự phê bình và phê bình. Logic của Người rất rõ ràng: Muốn lãnh đạo toàn dân tộc, Đảng phải đoàn kết. Đoàn kết phải trên cơ sở dân chủ, tập trung, tự phê bình và phê bình.

Với sứ mệnh của một Đảng cầm quyền, điều Hồ Chí Minh thường lo lắng là sự tha hóa của người có quyền lực trong tay. Do vậy Người luôn luôn nhấn mạnh tới vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Trong bản Di chúc bổ sung năm 1968 Hồ Chí Minh dặn ngay sau giành thắng lợi, “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”.

Để kế tục sự nghiệp của Đảng, Hồ Chí Minh căn dặn phải chú ý bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, thông qua việc chăm sóc, đào tạo thế hệ trẻ có đạo đức, có năng lực ”vừa hồng, vừa chuyên”.

2. Quan tâm tới con người luôn chiếm vị trí quan trọng trong chỉ đạo và điều hành đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong Di chúc, Người nhắc đến tất thảy mọi người, từ bà con lao động, công nhân, nông dân, thanh niên, học sinh, trí thức… Người căn dặn Đảng “phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.

Sau Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968, nhiều vấn đề hậu chiến được Bác đặc biệt quan tâm. Trong 6 trang viết thêm năm 1968, Người giành tới 4 trang để căn dặn kỹ mọi việc cần làm sau chiến thắng, đó là chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, quan tâm tới những cựu chiến binh, cựu thanh niên xung phong, nhất là phụ nữ, lựa chọn những người trẻ tuổi đã kinh qua chiến đấu cho đi học tập, đào tạo.

Đặc biệt cần quan tâm tới nông dân bởi lẽ họ sẽ lại là giai cấp thiệt thòi nhất sau chiến thắng. Điều thể hiện tính nhân văn sâu sắc tuyệt vời trong Di chúc Hồ Chí Minh ở chỗ Người không chỉ quan tâm tới “phe ta”, mà trong ý thức của Người mọi con dân đất Việt đều cần được đối xử bình đẳng. Người dặn “Đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ… thì Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”.

“Điều đầu tiên là công việc đối với con người” đã được Đảng ta thực hành từng bước có hiệu quả. Thành tựu hơn 30 năm Đổi mới đã biến một nước thuộc diện đói nghèo trở thành nước bước vào ngưỡng cửa của một xã hội phát triển. Độc lập được giữ vững, chủ quyền được vẹn toàn, con người năng động hơn, kinh tế tăng trưởng tốt hơn, cuộc sống người dân và an sinh xã hội tốt hơn, người nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí… Tinh thần hòa hợp dân tộc, xóa bỏ mặc cảm với những người từng cộng tác với chính quyền cũ… được thực hiện, đã đem lại cuộc sống bình yên cho tất cả mọi người. Các mục tiêu “Điện, đường, trường, trạm” đã làm cho bộ mặt nông thôn thay đổi hẳn.

3. Có người đọc câu kết của Di chúc cho rằng Bác không dặn đi lên Chủ nghĩa xã hội (CNXH). Thực ra trong các bản viết năm 1965, 1968 và 1969 Bác đều nhắc tới cụm từ CNXH một cách trân trọng và phù hợp văn cảnh. Đúng là câu kết không có chữ CNXH, nhưng nội hàm của: Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giầu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới - đó chính là mục tiêu của CNXH, là bản chất của CNXH.

50 năm sau ngày Bác ra đi, chúng ta đang trong quá trình đổi mới để phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng Xã hội chủ nghĩa. Từ năm 1957, nói chuyện ở trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, Bác đã dặn đi lên CNXH là cả một quá trình lâu dài, không được nóng vội vì “Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta” (2). Chúng ta vẫn trong chặng đường đầu tiên của CNXH, song những gì Đảng đã và đang mang lại cho dân theo chiều hướng một cuộc sống ấm no hạnh phúc hơn, đó chính là CNXH, bởi với Người, CNXH rất giản dị và thực tế: “Chủ nghĩa xã hội là mọi người cùng ra sức lao động sản xuất để được ăn no, mặc ấm, và có nhà ở sạch sẽ (3).

4. “Bác chẳng buồn đâu, Bác chỉ đau

Nỗi đau dân nước, nỗi năm châu

Chỉ lo muôn mối như lòng mẹ

Cho hôm nay và cho mai sau”…

(Bác ơi, Tố Hữu).

Có lẽ điều day dứt, bất an duy nhất của Bác trong Di chúc là khi nói về phong trào cộng sản quốc tế. Là người đã từng tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, người chịu trách nhiệm tổ chức phong trào cách mạng ở Đông - Nam Á, là người cộng sản có uy tín trong Quốc tế Cộng sản, hơn ai hết Hồ Chí Minh “đau lòng về sự bất hòa hiện nay giữa các Đảng anh em”. Tuân theo lời dạy của Bác, Đảng ta đã làm hết sức mình, có trách nhiệm với phong trào cộng sản thế giới, với anh em, bè bạn. Và chỉ riêng việc Đảng ta kiên trì Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh đổi mới thắng lợi ở Việt Nam, đã là hành động thiết thực bảo vệ phong trào cộng sản quốc tế. Lịch sử có lúc thăng trầm, nhưng xu hướng dân chủ, hòa bình và tiến bộ vẫn là dòng chủ lưu chính của xã hội hôm nay.

5. Về việc riêng. Có người đã cẩn thận đếm từng chữ trong mục “về việc riêng” do Bác viết ở bản Di chúc năm 1969. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên hay cố ý: vừa đúng 79 chữ. Là người đã thừa hưởng ở truyền thống dân tộc và ở cha mẹ tính khiêm tốn, sự khí khái không muốn làm phiền người khác, trước sau Bác luôn dặn Đảng ta không được “tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”. Cẩn thận hơn, Bác còn dặn: “Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là “hỏa táng”… Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam. Đồng bào mỗi miền nên chọn 1 quả đồi mà chôn hộp tro đó”.

Năm 1989, Đảng ta đã giải thích rõ việc xây dựng Lăng và giữ gìn thi hài Bác: “thể theo nguyện vọng và tình cảm của nhân dân, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) thấy cần thiết phải giữ gìn lâu dài thi hài của Bác để sau này đồng bào cả nước, nhất là đồng bào miền Nam, bạn bè quốc tế có điều kiện tới viếng Bác, thể hiện tình cảm sâu đậm đối với Bác. Chính vì lẽ đó mà chúng ta đã xin phép Bác về điểm này được làm khác với lời Bác dặn (4)”.

Từ năm 1967, không báo cáo với Bác, T.Ư Đảng và quân đội đã chọn 3 bác sĩ giỏi, phẩm chất tốt đi Liên Xô (trước đây) học cách bảo quản thi hài. Năm 1970, Ban phụ trách xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh được thành lập để gìn giữ Khu di tích Phủ Chủ tịch và xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh. Năm 1975, công trình Lăng Bác được khánh thành. Hôm nay tại mảnh đất thiêng Ba Đình, Cụm Di tích lịch sử - văn hóa Ba Đình đang mở cửa phục vụ khách tham quan trong nước và quốc tế, với số lượng hàng năm lên tới 4-5 triệu lượt người. Nhìn những dòng người dài như vô tận sáng sáng xếp hàng vào Lăng viếng Bác, thăm khu di tích Phủ Chủ tịch và Bảo tàng Hồ Chí Minh, mới thấy ý Đảng, lòng dân đã tạo nên sức mạnh thần kỳ.

50 năm, đọc lại Di chúc Bác Hồ, càng vững tin vào con đường mà Bác và Đảng đã chọn. Bởi lịch sử đã chứng minh những điều Bác đã tiên liệu là vô cùng chính xác, bởi Di chúc Bác Hồ chính là cái “Cẩm nang thần kỳ”, vừa tổng kết lịch sử, vừa định hướng tương lai.

1. Những chữ in nghiêng trong bài đều trích từ Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

2. Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập 11. NxbCTQG. H, 2011. tr 92.

3. Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập 13. NxbCTQG. H, 2011, tr 17.

4.Thông báo của Bộ Chính trị BCHTWĐCSVN về một số vấn đề liên quan tới Di chúc và ngày qua đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh số 151-TB/T.Ư ngày 19-8-1989 do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh ký.