Lường trước sức ép cạnh tranh từ các FTA

ĐẶNG THÀNH
Thứ Năm, 28-11-2019, 14:01
Những ngành thâm dụng lao động như dệt - may, da - giày dự báo sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ các FTA. Ảnh: LAM ANH

Việc tham gia ký kết và thực hiện các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, đặc biệt là Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại tự do EU - Việt Nam (EVFTA), sẽ tác động sâu, rộng tới nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025. Nhờ đó, Việt Nam có thể nhanh chóng cải thiện năng lực cạnh tranh (NLCT) ở quy mô thị trường, lao động.

Tại Hội thảo “Triển vọng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025: Cơ hội và thách thức từ các FTA thế hệ mới” diễn ra ngày 21-11, các chuyên gia đã khẳng định, việc tham gia ký kết và thực hiện các FTA thế hệ mới, đặc biệt là CPTPP và EVFTA sẽ tác động sâu, rộng tới nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025. Theo đó, EVFTA và CPTPP có thể giúp GDP Việt Nam tăng thêm lần lượt 4,3% và 1,3% vào năm 2030. Kim ngạch xuất khẩu (XK) của Việt Nam sang EU đến năm 2030 dự kiến tăng thêm khoảng 44,4%; XK sang các nước trong CPTPP đến năm 2035 tăng 14,3%. Ngoài ra, hai FTA này cũng có tác động tích cực tới lao động; trong đó những ngành thâm dụng lao động như dệt - may, da - giày dự báo sẽ được hưởng lợi nhiều nhất.

Tác động tích cực từ EVFTA và CPTPP còn có thể đến từ việc tạo sức ép cải thiện thể chế và môi trường kinh doanh (MTKD), do đó kỳ vọng tạo ra những tác động tích cực trong trung và dài hạn. Trên cơ sở đó, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) đã xây dựng hai kịch bản dự báo tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021 - 2025. Kịch bản thứ nhất với nhiều khả năng xảy ra hơn, tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam sẽ đạt khoảng 7%/năm trong giai đoạn 2021 - 2025; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát ở mức 3,5 - 4,5%/năm. Năng suất lao động được cải thiện hơn so thời điểm tốc độ tăng trưởng khoảng 6,3%/năm. Kịch bản thứ hai, nếu Việt Nam có thể tận dụng được các thành tựu khoa học - công nghệ (KHCN) trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) và thu hút đầu tư có sự cải thiện chất lượng, phát triển tốt nền tảng kinh tế hiện tại, kỳ vọng GDP tăng trưởng 7,5%/năm.

Tuy nhiên, Trưởng ban Dự báo Kinh tế ngành và Doanh nghiệp (Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia) Trần Toàn Thắng cho rằng, với các FTA, không nên quá kỳ vọng vào câu chuyện cắt giảm thuế quan, bởi khi đã ký quá nhiều FTA thì việc cắt giảm thuế quan chỉ giúp Việt Nam tránh được thiệt hại so các nước chung quanh. Tác động tích cực nhất mà các FTA có thể đem lại là việc tạo ra MTKD đầu tư và thể chế tốt. Các FTA khác tác động thay đổi cơ cấu thương mại với các đối tác không nhiều. Nếu như nói mục tiêu tham gia ký kết các FTA là đa dạng hóa thị trường thì cơ cấu đến nay chưa thể hiện được điều đó. Thí dụ, thị trường Hàn Quốc có tác động từ FTA Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA), nhưng nhập khẩu từ Hàn Quốc đến nay tăng mạnh, thâm hụt thương mại với Hàn Quốc cao. Riêng với EVFTA, đây có thể là một “cú huých” cho nền kinh tế bởi mức độ bổ sung giữa hai nền kinh tế Việt Nam và EU là rất lớn. Song, việc Việt Nam có tận dụng được tỷ lệ xuất xứ (TLXX) của hàng Việt Nam sang EU hay không và sự chống chịu của Việt Nam trước những tác động tiêu cực của FTA này lại là vấn đề đáng phải lưu ý. Thực tế, nhà đầu tư nước ngoài luôn kỳ vọng về tác động XK và cải thiện TLXX trong nước, nên nhiều doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đẩy mạnh đầu tư vào Việt Nam để tận dụng lợi thế FTA.

Đánh giá tác động của CPTPP và EVFTA tới đầu tư, ông Trần Toàn Thắng cho rằng, hai FTA này đều có cam kết cao hơn so khuôn khổ WTO về mở cửa đầu tư, bảo hộ đầu tư, giải quyết tranh chấp. Về mặt định tính, EVFTA và CPTPP có thể giúp tăng khối lượng đầu tư nhằm tăng XK vào thị trường của các đối tác Việt Nam; tăng đầu tư vào các ngành thượng nguồn nhằm khai thác cam kết về TLXX, giúp cải thiện chuỗi cung ứng của Việt Nam…

Ông Trần Toàn Thắng nhấn mạnh, tuy Việt Nam có thể nhanh chóng cải thiện NLCT ở quy mô thị trường, lao động, nhưng những chỉ số cốt lõi như hạ tầng, sáng tạo, mức độ sẵn sàng về công nghệ lại là những điều đáng lo ngại và cần có thời gian. Chúng ta đã ký tương đối nhiều FTA. Câu chuyện không phải là tiếp tục ký thêm các FTA khác, mà ở việc tận dụng các FTA đã ký thế nào, cải thiện TLXX thông qua công nghiệp phụ trợ, thu hút đầu tư như thế nào.

Theo ông Thắng, ba vấn đề cốt lõi trong thời gian tới là: Nâng cao năng lực nội tại của nền kinh tế; đổi mới mô hình tăng trưởng, thúc đẩy gia tăng các động lực tăng trưởng mới; tận dụng hiệu quả các cơ hội từ hội nhập quốc tế, từ xu thế phát triển KHCN và CMCN 4.0. Do vậy, cần đẩy nhanh quá trình cải cách thể chế và cải thiện MTKD; thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của khu vực tư nhân; thúc đẩy phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động, tận dụng tốt nhất các lợi ích “bắt kịp” từ CMCN 4.0; phát triển công nghiệp chế biến - chế tạo theo chiều sâu.

Về vấn đề này, theo Bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh, đến nay, Việt Nam đã ký kết 12 FTA, nhưng EVFTA có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Hơn nữa, khi Việt Nam đạt được trình độ nhất định, FTA này sẽ giúp sản phẩm, dịch vụ cạnh tranh được ở châu Âu, tham gia vào chuỗi giá trị. Tất nhiên, song hành cùng cơ hội thì việc thực thi EVFTA cũng đặt ra không ít thách thức, nhất là khi Việt Nam là nền kinh tế có trình độ phát triển thấp nhất so các nước trong khu vực đã ký FTA với EU. Vì vậy, sức ép cạnh tranh là vấn đề đầu tiên đối với nền kinh tế và các DN Việt Nam.

.