Đầu tư và quản lý hiệu quả vốn nhà nước

QUỐC BÌNH
Thứ Ba, 13-04-2021, 15:12
Chính sách quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp nhà nước đã có nhiều thay đổi. Ảnh: NGUYỆT ANH

Quốc hội (QH) khóa XIII đã tạo hành lang pháp lý cho việc đầu tư vốn nhà nước (VNN) vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp (DN). Cơ chế, chính sách quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước (TSNN) đầu tư tại các DN nhà nước (DNNN) đã được xây dựng đồng bộ phù hợp yêu cầu đổi mới, hội nhập. Tuy nhiên, một số chủ trương, quan điểm chỉ đạo và hệ thống pháp luật có liên quan đến việc quản lý, sử dụng VNN đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại DN có thay đổi.

Với mục tiêu rà soát, đánh giá tình hình triển khai Luật Quản lý, sử dụng VNN đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại DN (Luật số 69/2014/QH13) thời gian qua, làm rõ những vướng mắc, bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung và tham vấn ý kiến các chuyên gia, các cơ quan đại diện chủ sở hữu và một số tập đoàn kinh tế, tổng công ty lớn về định hướng sửa đổi, bổ sung Luật cho giai đoạn tới, Bộ Tài chính đã phối hợp Ngân hàng Thế giới (WB) tổ chức Hội thảo Luật số 69/2014/QH13: Kết quả 5 năm triển khai và định hướng sửa đổi, bổ sung.

Theo ông Đặng Quyết Tiến, Cục trưởng Tài chính DN, Bộ Tài chính, QH khóa XIII đã tạo hành lang pháp lý cho việc đầu tư VNN vào sản xuất, kinh doanh tại DN. Cơ chế, chính sách quản lý, sử dụng vốn, TSNN đầu tư tại các DNNN đã được xây dựng đồng bộ phù hợp yêu cầu đổi mới, hội nhập. Các cơ chế, chính sách đã tạo môi trường pháp lý đầy đủ, ổn định cho hoạt động quản lý, sử dụng vốn, TSNN tại cơ quan nhà nước và DN. Cơ chế, chính sách đã bảo đảm tôn trọng và nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của DN cùng việc tăng cường sự kiểm tra, giám sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng VNN và TSNN đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại DN. Tuy nhiên, trong giai đoạn vừa qua, một số chủ trương, quan điểm chỉ đạo và hệ thống pháp luật có liên quan đến việc quản lý, sử dụng VNN đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại DN có thay đổi.

Cụ thể, ông Đặng Quyết Tiến nêu rõ, quá trình triển khai thực hiện Luật số 69/2014/QH13 và các văn bản hướng dẫn cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập như: việc xác định VNN đầu tư tại DN; thẩm quyền quyết định dự án đầu tư, xây dựng, mua bán tài sản cố định; thẩm quyền quyết định đầu tư vốn ra ngoài DN. Cùng với đó là quy định về đầu tư ra nước ngoài của DN: phương thức chuyển nhượng vốn đầu tư, phân phối lợi nhuận sau thuế; nguyên tắc phân phối lợi nhuận sau thuế của DNNN; bảo toàn và phát triển vốn của DN; các phương thức chuyển giao, cơ cấu lại VNN tại DN.

Bất cập còn nằm ở việc quản lý, sử dụng tiền thu từ cổ phần hóa, thoái vốn; quyền hạn, trách nhiệm, phương thức quản lý người đại diện và nhóm người đại diện VNN tại DN, cơ quan đại diện chủ sở hữu và công tác giám sát; quản lý của DNNN đối với công ty con do DNNN nắm giữ 100% vốn điều lệ...

TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Nghiên cứu quản lý kinh tế T.Ư thẳng thắn chỉ rõ, Nhà nước đầu tư vào DN trở thành cổ đông, thành viên và tài sản có được là số cổ phần, phần góp vốn tương ứng. Tuy nhiên, khái niệm về VNN tại Luật số 69/2014/QH13 không còn phù hợp, có sự lẫn lộn, sai lệch về các loại vốn, tài sản, sở hữu tài sản thuộc sở hữu nhà nước và tài sản của DN. Quy định hiện hành (Luật số 69/2014/QH13) làm lẫn lộn và không phân biệt được về mặt pháp lý tài sản của DN và TSNN. Cần loại bỏ các khái niệm kiểu này, chúng là di sản của kinh tế kế hoạch hóa tập trung.

Trưởng ban Pháp chế EVN, ông Nguyễn Minh Khoa cũng cho rằng: “Không thể đòi hỏi DNNN trăm trận đánh, trăm trận thắng”. Vì vai trò, trách nhiệm của DNNN không chỉ vì mục tiêu lợi nhuận mà còn phải thực hiện các nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao đó là “thực hiện định hướng, điều tiết, ổn định kinh tế vĩ mô; thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội”, phải đầu tư vào những lĩnh vực mà biết chắc là chỉ có lỗ như kéo điện lên biên giới, ra đảo, đầu tư vào những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn... 

Tại hội thảo, các đại biểu đều thống nhất việc triển khai  Luật số 69/2014/QH13 trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung. Cụ thể: cần phân định, làm rõ khái niệm VNN theo quy trình của dòng vốn. Theo đó, sau khi đầu tư vào DN, VNN trở thành vốn của DN, do DN quản lý, sử dụng và định đoạt và Nhà nước trở thành chủ sở hữu của phần vốn góp, cổ phần tương ứng tại DN. Cần làm rõ vai trò của các cơ quan đại diện chủ sở hữu: sau khi đầu tư, các cơ quan đại diện chủ sở hữu là chủ sở hữu phần vốn góp, cổ phần tại DN và có quyền, nghĩa vụ tương tự các nhà đầu tư, các cổ đông của DN. Do vậy, các cơ quan đại diện chủ sở hữu không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN. Mọi hoạt động của DN do ban điều hành thực hiện; tách chức năng quản lý của chủ sở hữu nhà nước với quản lý điều hành DN.

Bên cạnh đó, cần thay đổi theo hướng đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư VNN phải thực hiện theo các nguyên tắc thị trường, theo đó, phải đánh giá dựa trên giá trị gia tăng của vốn đầu tư và cổ tức, lợi nhuận được chia hằng năm - hiệu quả đầu tư vốn của cổ đông nhà nước. Đẩy mạnh đổi mới, quản trị tại các DNNN theo hướng tăng cường công khai, minh bạch và tăng trách nhiệm giải trình của người đứng đầu; áp dụng quản trị hiện đại theo thông lệ quốc tế; tăng cường hiệu quả hoạt động giám sát, kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước, thúc đẩy vai trò giám sát của các tổ chức, đoàn thể tại DN.

Ông Đặng Quyết Tiến cho biết, kết quả của cuộc hội thảo sẽ góp phần giúp Bộ Tài chính hoàn thiện một bước các cơ sở lý luận, thực tiễn để đề xuất Chính phủ, QH các định hướng, nội dung sửa đổi bổ sung Luật trong năm 2021.

.