Tìm giải pháp chống sạt lở bờ biển (Tiếp theo và hết) (*)

Thứ Sáu, 28/09/2018, 05:24:43
 Font Size:     |        Print
 

Tỉnh Ninh Thuận triển khai gia cố đê biển tại thôn Khánh Nhơn 1, xã Nhơn Hải, huyện Ninh Hải. Ảnh: NGUYỄN TRUNG

Bài 2: Giữ gìn các vùng đất trù phú ven biển -

Theo dự báo, xu hướng sạt lở bờ biển trong thời gian tới phụ thuộc vào các kịch bản nước biển dâng và mức độ phát triển kinh tế - xã hội ở vùng ven biển. Vì vậy, cần chỉ rõ nguyên nhân để tìm ra các giải pháp khắc phục một cách tổng thể, bền vững, nếu không, nhiều vùng đất trù phú ven biển sẽ tiếp tục chìm dần xuống biển.

Ði tìm nguyên nhân

Chỉ tay ra biển mịt mù, anh Ðặng Dương, thôn Khánh Nhơn 1, xã Nhơn Hải, huyện Ninh Hải (Ninh Thuận) kể: "Trước đây, dọc bờ biển có rừng dương cao, dày cả trăm mét tựa như đai biển phòng hộ, bức tường rất vững chắc, ngăn chặn được nhiều trận mưa bão hằng năm vào mùa gió bấc. Giờ đây, khi đai biển không còn, sóng biển đã cuốn phăng nhiều nhà cửa, đất đai dọc bờ biển ở thôn Khánh Nhơn 1. Nếu không sớm xây dựng kè chắn sóng, phát triển lại đai biển phòng hộ, vài năm nữa, nhà ở, tài sản của cả khu dân cư nơi đây sẽ bị sóng biển xâm thực cuốn hết xuống biển".

Theo các chuyên gia, bên cạnh tác động của biến đổi khí hậu, một trong những nguyên nhân chính gây sạt lở bờ biển ở tỉnh Ninh Thuận nói riêng và các địa phương phía nam nói chung là do rừng phòng hộ ven biển bị suy thoái nghiêm trọng. Và rừng phòng hộ suy thoái không chỉ do xâm thực của biển càng ngày càng dữ dội, làm giảm nhanh diện tích rừng ngập mặn, rừng phòng hộ mà còn vì tình trạng phá rừng làm đầm nuôi tôm tự phát, nuôi tôm quảng canh, làm khu du lịch sinh thái... Theo thống kê, tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, từ năm 2011 đến nay, diện tích rừng ngập mặn đã giảm gần 10%, từ 194.723 ha giảm xuống còn 179.384 ha.

Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Gò Công Ðông (Tiền Giang) Nguyễn Văn Quý cho biết: "Biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường. Thời gian qua, đê biển Gò Công chịu ảnh hưởng rất lớn, bởi tấm lá chắn bảo vệ là rừng phòng hộ của huyện ngày càng mỏng dần, mỗi năm mất đi hơn 10 ha…". Chi Cục trưởng Thủy lợi tỉnh Tiền Giang Nguyễn Thiện Pháp nói: "Số liệu quan trắc của Chi cục Thủy lợi từ năm 2000 đến 2017 cho thấy, chiều dài rừng phòng hộ đê biển Gò Công mất rừng hơn 6,1 km. Trước kia, bên ngoài bờ biển của tỉnh đã từng có một đai rừng phòng hộ khá dày từ 100 đến 800 m. Thời gian gần đây, rừng phòng hộ ven biển suy thoái dần, có nơi rừng không còn hoặc đai rừng rất mỏng.

Dự báo từ nay đến năm 2020, có 3,5 km rừng phòng hộ đê biển của tỉnh Tiền Giang "tan theo bọt biển". Ðể bảo đảm an toàn tại những điểm mất rừng, Chi cục Thủy lợi đã tiến hành kè mái đê để ngăn sóng biển cuốn. Riêng trong năm 2018, đê biển Tiền Giang cần phải làm kè gần 1,5 km để bảo vệ sạt lở, trong đó 700 m cần phải kè khẩn cấp. Trước tình hình nêu trên, để bảo vệ đê biển Gò Công, tỉnh Tiền Giang đã đầu tư công trình gây bồi, tạo bãi trống gây rừng ngập mặn, với hơn 56 tỷ đồng xây kè mềm để giảm sóng, bảo vệ đê biển".

Còn tại tỉnh Cà Mau, từ năm 2007 đến nay, rừng ven biển đã bị mất hơn 4.000 ha. Nếu cách đây 10 năm, bình quân độ dày rừng phòng hộ của Cà Mau từ 1,5 đến 2 km, thì hiện nay, có nơi sạt lở đến chân đê, uy hiếp đến cuộc sống của hàng nghìn hộ dân của địa phương này. Ngoài ra, cũng thẳng thắn nhìn nhận, việc xây dựng nhiều nhà ở, công trình hạ tầng ven biển… đã làm thay đổi quy luật tự nhiên về dòng chảy của biển và ảnh hưởng đến sự tác động của sóng biển vào bờ.

Dọc theo bờ biển Bình Thuận, hầu như ở vị trí nào làm kè chắn sóng vươn ra biển để xây dựng cảng hoặc khu neo đậu tàu thuyền thì sau một thời gian, ở vị trí gần đó về phía nam bờ biển sẽ bị xói lở, xâm thực do tác động sóng biển. Ðơn cử, tại TP Phan Thiết, trước khi cảng Phan Thiết được xây dựng, vùng ven biển phía nam cảng không có hiện tượng biển xâm thực vào đất liền, lấn sâu vào cả khu dân cư. Thế nhưng, sau khi cảng hoàn thành và đưa vào sử dụng vào những năm 90 thế kỷ trước thì hiện tượng biển xâm thực diễn ra thường xuyên hằng năm. Bên cạnh đó, mỗi lần xây kè lấn biển chắn sóng, xây dựng khu dân cư mới tại vị trí biển xâm thực thì lại xuất hiện vị trí xói lở mới, đến nay vị trí đang chịu tác động trực tiếp là thôn Tiến Ðức, xã Tiến Thành.

Ở huyện Tuy Phong, tình trạng tương tự cũng xuất hiện sau khi khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão cửa sông Liên Hương được xây dựng thì biển xâm thực ở các khu dân cư ven biển phía nam thuộc khu phố 13, 14 của thị trấn này. Hoặc như vào tháng 3-2018, trước tình hình biển xâm thực, một số doanh nghiệp du lịch ở phường Hàm Tiến, TP Phan Thiết đã tự ý đầu tư xây kè sử dụng công nghệ túi vải địa kỹ thuật (Geotube) bơm cát làm kè bảo vệ bờ và mỏ hàn chắn cát trong phạm vi được giao. Tuy nhiên, do xây kè không theo quy chuẩn, không có nghiên cứu tính toán, không có hồ sơ thiết kế đã làm cho tình trạng sạt lở ngày càng nghiêm trọng hơn, ảnh hưởng đến xói lở bờ biển của các khu du lịch liền kề, gây nguy hiểm đến tính mạng của khách du lịch và người dân trong khu vực.

Cần giải pháp tổng thể

Trước tình hình biển xâm thực ngày càng gia tăng, tỉnh Bến Tre đưa ra nhiều giải pháp nhằm bảo vệ bờ biển. Trong đó, ngoài giải pháp xây dựng kè bê-tông kiên cố với chi phí rất cao, địa phương đang tính tới phương án kè mềm bằng cát, sử dụng thân cây rừng bị ngã làm kè chắn sóng... Theo thống kê của Ban Quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng Bến Tre, trong ba năm qua, sạt lở gây thiệt hại hơn 70 ha rừng đước, phi lao, mắm ở ven biển, trong đó, huyện Thạnh Phú bị thiệt hại nặng nề nhất với hơn 50 ha.

Phó Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh Bến Tre Phạm Văn Trường cho biết: "Giải pháp được Ban quản lý đưa ra là những diện tích rừng ngay tại bờ biển bị ngã sẽ giữ nguyên hiện trạng để làm kè chắn sóng. Khi đó, chính những thân cây bị sóng biển làm sạt lở, trốc gốc sẽ làm bờ kè ngăn sóng, bảo vệ rừng ở phía trong tương đối hiệu quả". Bên cạnh đó, giải pháp sử dụng kè mềm bằng những túi vải chứa cát đang được chính quyền địa phương thí điểm xây dựng.

Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre Cao Văn Trọng chia sẻ: "Hiện tại, có hai đơn vị tài trợ chuẩn bị triển khai thí điểm công trình kè mềm bảo vệ bờ biển tại huyện Thạnh Phú với tổng chiều dài gần 2 km. Trong đó, xây dựng 750 m kè mềm bằng ống cát tại khu vực Cồn Bửng, xã Thạnh Hải và xây dựng kè mềm chiều dài 1km bằng túi vải chứa cát tại khu vực ven biển xã Thạnh Phong. Sau khi hoàn thành, sẽ có đánh giá cụ thể để sử dụng giải pháp này xây dựng tại các đoạn khác nhằm bảo vệ bờ biển. Hiện tại, bờ biển tỉnh Bến Tre khá dài nên chỉ một số đoạn phát triển du lịch, đông dân cư mới xây dựng kè bê-tông kiên cố, còn lại sẽ tính tới phương án xây dựng kè mềm".

PGS, TS Trịnh Công Vấn, Viện trưởng Viện Ðổi mới công nghệ thủy lợi Mekong (Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam), nhận định: "Giải pháp kè mềm bằng ống cát bảo vệ bờ biển chống sạt lở cho khu vực Cồn Bửng là giải pháp thân thiện với môi trường và chi phí thấp. Trong đó, dự án sẽ sử dụng vải địa kỹ thuật và cát tại chỗ để tạo thành thảm cát có cao trình 0,5 m và được neo giữ bằng các bao neo thảm dọc theo tuyến bờ. Ðồng thời, có thể trồng rau muống biển là loại cây ở địa phương phát triển nhanh sẽ che phủ và bảo vệ vải địa kỹ thuật. Ðây là giải pháp mềm sẽ bảo vệ bờ biển không sạt lở tiếp và gây bồi tạo bãi cát".

Còn giải pháp kè mềm để làm thí điểm tại bờ biển xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú (Bến Tre) có giá chỉ bằng 35% so với cách làm truyền thống. Theo đó, sẽ giữ lại các doi cát ngoài bờ biển giúp bờ biển bồi lấp và khôi phục lại diện tích đã mất. Những túi cát bằng vải được bơm đầy cát và có cọc để giữ cố định tạo thành bờ đê bảo vệ bờ biển với 95% là vật liệu tại chỗ". Giải pháp kè mềm được đưa ra với mục tiêu không chỉ ngăn xói lở bờ biển mà còn thân thiện với môi trường, góp phần trả lại cảnh quan tự nhiên ở bờ biển.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Thuận Nguyễn Hữu Phước cho rằng: "Trước mắt để bảo vệ an toàn nhà cửa, tính mạng của người dân, Bình Thuận đang đề xuất nhiều giải pháp để xử lý cấp bách các công trình trọng điểm, bao gồm: Các kè chống sạt lở bờ biển tại khu phố 13, 14 thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong; khu phố 2, 3 phường Hàm Tiến và khu phố 5, phường Ðức Long và thôn Tiến Ðức, xã Tiến Thành của TP Phan Thiết; kè bảo vệ khu dân cư phường Phước Lộc, thị xã La Gi. Tổng vốn đầu tư xây dựng các công trình này gần 700 tỷ đồng". Ông Phước cũng thẳng thắn nhìn nhận, do vốn đầu tư xây dựng, tu sửa cho đê kè quá lớn (từ vài chục đến vài trăm tỷ đồng/dự án), nguồn ngân sách tỉnh còn hạn hẹp, vì thế rất cần sự hỗ trợ của T.Ư hay nguồn vốn từ các tổ chức nước ngoài, vốn ODA, WB…

Theo TS Bùi Trọng Vinh, Phó trưởng Khoa Kỹ thuật địa chất Trường đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh, kinh nghiệm chống xói lở, bồi tụ bờ biển các nước trên thế giới và Việt Nam đã chỉ ra rằng vấn đề chống xói lở bờ, bồi tụ bờ biển là rất khó khăn, phức tạp đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ và toàn diện các giải pháp từ tầm vĩ mô đến vi mô, cả trực tiếp và gián tiếp, các giải pháp công trình và phi công trình phù hợp với từng giai đoạn cụ thể. Các giải pháp ở tầm vĩ mô nằm trong nội dung quản lý khu vực và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. Các giải pháp công trình cần phù hợp với quy luật tự nhiên trên cơ sở xác nhận các tác nhân gây xói lở, nguyên nhân gián tiếp, trực tiếp, cơ chế xói lở, bồi tụ. Trong đó, phát triển rừng phòng hộ ven biển là hết sức cần thiết cho việc bảo vệ đê biển, bảo đảm đời sống người dân và phát triển kinh tế sau đê. Công việc cấp bách hiện nay là phải nghiên cứu chi tiết về việc đặt các đê phá sóng ngoài khơi, các mỏ hàn mềm, chiều rộng đai rừng phòng hộ, lượng trầm tích hữu cơ cần thiết để trồng rừng ngập mặn tạo vành đai chắn sóng để ổn định bãi triều, bảo vệ đê ven biển.

* Tìm giải pháp chống sạt lở bờ biển (Kỳ 1)

--------------------------

(*) Xem Báo Nhân Dân từ số ra ngày 27-9-2018.

NHÓM PHÓNG VIÊN CƠ QUAN THƯỜNG TRỰC TP HỒ CHÍ MINH

Chia sẻ