Phòng, chống xâm hại trẻ em: Vẫn gặp khó

Thứ Năm, 07/12/2017, 17:25:04
 Font Size:     |        Print

NDĐT- Theo Bộ Công an, ba năm trở lại đây, đã có hơn 4.100 vụ xâm hại tình dục trẻ em. Sáu tháng đầu năm nay đã ghi nhận gần 700 vụ xâm hại, với hơn 700 trẻ là nạn nhân. Tình hình trẻ em bị xâm hại trên môi trường mạng cũng có những diễn biến phức tạp. Ước tính, trong gần 2/3 số vụ xâm hại trẻ em, đối tượng lợi dụng các phương tiện công nghệ cao, các trang mạng xã hội để dụ dỗ, lừa gạt xâm hại trẻ.

Những con số

Số liệu của Bộ Công an cho thấy, trong ba năm qua đã có hơn 4.100 vụ xâm hại tình dục trẻ em (XHTDTE). Chỉ tính riêng sáu tháng đầu năm 2017, số vụ lên tới gần 700, với hơn 700 em bị xâm hại. Trên thực tế, con số này còn lớn hơn vì nhiều lý do và hiện vẫn không có số liệu quốc gia một cách chính thức. Trong số 1.000 vụ xâm hại tình dục (XHTD), số trẻ em gái ở độ tuổi 12-15 chiếm tới 57,46%, số trẻ em dưới sáu tuổi bị xâm hại chiếm tới 13,2%.

Đây là thông tin từ hội thảo “Phòng chống xâm hại tình dục trẻ em - từ luật pháp, chính sách đến thực tiễn” do Trung tâm Nghiên cứu và ứng dụng khoa học về giới - gia đình - phụ nữ và vị thành niên (CSAGA) diễn ra ngày7-12 tại Hà Nội.

Nhận định về tình hình tội phạm XHTDTE, Trung tá Khổng Ngọc Oanh, Trưởng phòng P6/C45 (Bộ Công an) cho hay, chỉ riêng trong sáu tháng đầu năm 2017, phát hiện 696 vụ XHTDTE/716 đối tượng, xâm hại 710 em; tăng 43 vụ so với cùng kỳ năm 2016.

Theo ông Khổng Ngọc Oanh, đối tượng XHTDTE ở nhiều độ tuổi khác nhau, tập trung chủ yếu từ 17 đến 40 tuổi, ngoài ra nhiều vụ đối tượng trên 50 tuổi, cá biệt có một số vụ trên 70 tuổi. Các đối tượng vi phạm chủ yếu là lao động tự do hoặc không có nghề nghiệp, nghề không ổn định; lười lao động, ham mê rượu chè, đàn đúm, có lối sống lệch chuẩn, bệnh hoạn, biến thái. Một số đối tượng thường lợi dụng nghề nghiệp để XHTDTE như giáo viên, nhân viên y tế, người có chức trách bảo trợ, nuôi dưỡng, chữa bệnh… hoặc có kiến thức, kỹ năng trong môi trường mạng…

Các nạn nhân trẻ em chủ yếu là nhóm trẻ em còn nhỏ tuổi. Nhiều nạn nhân dưới 10 tuổi còn quá non nớt, không có khả năng tự vệ, dễ dàng bị đối tượng lợi dụng dụ dỗ, cưỡng bức xâm hại. Bên cạnh đó, có nhóm trẻ em gái, nữ sinh mới lớn, tâm lý tò mò thích cái mới xong chưa có kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử, kiến thức về quan hệ giới tính, cộng với thiếu sự quan tâm quản lý của gia đình, nhà trường... bị đối tượng lợi dụng để dụ dỗ, rủ rê, lừa gạt, thậm chí cưỡng ép và bị XHTD.

Đáng chú ý, trẻ em nam từ các tỉnh, địa phương đến các đô thị, thành phố lớn để mưu sinh, lang thang đường phố bị các đối tượng (chủ yếu đối tượng đồng tính bệnh hoạn, người nước ngoài du lịch, sống hoặc làm việc tại Việt Nam) lợi dụng, dụ dỗ xâm hại tình dục đồng tính và xúi giục thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác.

Thủ đoạn của các đối tượng xâm hại thường lợi dụng sự non nớt, thiếu kỹ năng tự vệ của nạn nhân, thiếu sự quan tâm của người lớn để dụ dỗ, đe dọa, cưỡng bức XHTD; lợi dụng mối quan hệ phụ thuộc, gần gũi với nạn nhân như cha con, cha dượng, họ tộc, xóm giềng, thầy trò, yêu đương… từ đó nạn nhân không có ý thức tạo khoảng cách để thực hiện hành vi xâm hại tình dục. Chúng cũng triệt để lợi dụng môi trường mạng, đặc biệt các mạng xã hội trên internet như Zalo, Facebook, Viber… để tiếp cận, dụ dỗ, làm quen rồi rủ rê đi chơi, du lịch, mua sắm để lừa gạt, hoặc đưa trẻ em vào tình cảnh phụ thuộc để thực hiện hành vi xấu.

Ông Oanh cũng nhấn mạnh, tình hình trẻ em bị xâm hại trên môi trường mạng cũng có những diễn biến phức tạp. Tuy chưa có số liệu thống kê chính thức, nhưng ước tính, có đến gần 2/3 số vụ xâm hại trẻ em, đối tượng triệt để lợi dụng các phương tiện công nghệ cao, các trang mạng xã hội để dụ dỗ, lừa gạt xâm hại tình dục, mua bán trẻ em, mại dâm và khiêu dâm trẻ em.

Từ đó, đại diện của ngành công an cũng nêu một khó khăn trong công tác phòng ngừa XHTDTE là do đối tượng XHTDTE thường là người thân, quen với nạn nhân, chưa có tiền án tiền sự, chưa nằm trong danh sách quản lý nghiệp vụ của lực lượng công an, nên khi thực hiện hành vi, thậm chí thực hiện nhiều lần nhưng khó được phát hiện ngăn chặn. Theo một thống kê của Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam, có đến 93% trẻ em bị xâm hại tình dục bởi người thân, người quen.

Hầu hết các vụ XHTDTE xảy ra nơi vắng vẻ, đặc biệt tại các vùng nông thôn sông nước, miền núi hẻo lánh, thường được phát hiện muộn nên rất khó thu thập được chứng cứ; khó xác định độ tuổi vì nhiều trường hợp khai sinh muộn hoặc không có khai sinh. Việc giám định dấu vết và độ tuổi không được kịp thời nên khó chứng minh tội phạm.

Nhận thức của một bộ phận người dân còn hạn chế, chưa tích cực tố giác và cộng tác với cơ quan Công an trong các vụ XHTDTE. Ngoài ra, do áp lực sợ oan sai nên có tình trạng quá thận trọng, cầu toàn của cơ quan Công an trong việc đánh giá và sử dụng chứng cứ, kiến nghị khởi tố.

Tội phạm ngày càng tinh vi

Tiến sĩ Hoàng Anh Tuyên, Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, cho hay, số án XHTDTE được khởi tố điều tra, truy tố, xét xử của những năm gần đây có chiều hướng giảm.

Cụ thể, năm 2015, khởi tố 1.613 vụ/1.600 bị can; truy tố: 1.564 vụ/1.651 bị can; Xét xử: 1.564 vụ/1.642 bị can. Sang năm 2016, các con số này lại ít hơn, như khởi tố: 1.514 vụ/1.483 bị can; truy tố: 1.339 vụ/1.403 bị can; xét xử: 1.381 vụ/1.449 bị cáo. Ngoài ra, mỗi năm còn khoảng trên, dưới 200 vụ thuộc trường hợp mới thụ lý đang giải quyết tố giác tin báo tội phạm, tạm đình chỉ, hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Ông Tuyên nhận định, một trong những nguyên nhân khách quan là do tội phạm ngày càng tinh vi, khó phát hiện. Người phạm tội cố tình xóa dấu vết, đe dọa hoặc khống chế nạn nhân. Người bị hại là trẻ em nhận thức còn non nớt, khai báo không đầy đủ, dẫn đến việc kéo dài thời gian điều tra.

Bên cạnh đó, chưa có cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan y tế, giáo dục, tư pháp với cơ quan quản lý Nhà nước để phát hiện và xử lý kịp thời tội phạm XHTDTE. Sự thiết sót trong pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật hình sự quy định chưa rõ ràng cũng tạo khó khăn trong việc thực thi pháp luật đối với tội phạm XHTD trẻ em

Chia sẻ về kinh nghiệm hỗ trợ pháp lý các vụ XHTDTE, Giám đốc CSAGA Nguyễn Vân Anh cho rằng, một trong những vấn đề chính là do rào cản về tâm lý từ gia đình nạn nhân. Nhiều gia đình nạn nhân cảm thấy xấu hổ và mặc cảm bởi các định kiến, lo sợ, hoang mang, thiếu niềm tin vào công lý, Họ cũng thiếu hiểu biết về quyền được tiếp cận công lý và các dịch vụ hỗ trợ tại địa phương, xu hướng thỏa thuận dân sự với người xâm hại. Thêm vào đó, sự chậm trễ, thờ ơ của cán bộ thực thi pháp luật, quy trình phát hiện, thu thập thông tin kéo dài, chưa đặt nguyên tắc bảo vệ an toàn cho nạn nhân lên trên hết… cũng tác động tới tâm lý gia đình nạn nhân, cộng đồng.

Từ thực tế này, TS Tuyên cũng kiến nghị nên quy định ẩn danh đối với người bị hại nhằm giải tỏa tâm lý xấu hổ, sợ ảnh hưởng nặng thêm đến trẻ em bị xâm hại, không tố cáo hoặc không cung cấp chứng cứ cho cơ quan pháp luật. Cũng cần sửa đổi, bổ sung pháp luật hình sự nêu rõ những khái niệm chưa rõ ràng và quy định theo hướng mở rộng nguyên tắc xác định chứng cứ, cách thức thu thập chứng cứ đối với loại tội phạm này để kịp thời phát hiện, điều tra, xử lý loại tội phạm XHTDTE.

Để hỗ trợ tốt hơn cho các nạn nhân của XHTDTE, bà Vân Anh mong muốn có sự vào cuộc kịp thời, khẩn trương từ các ban, ngành, cá nhân. Việc bảo đảm cho an toàn của nạn nhân là nguyên tắc quan trọng số một, từ đó phát huy sức mạnh và sự chung tay của cá nhân, tổ chức tại cộng đồng, phát huy vai trò của truyền thông trong thúc đẩy tiến độ giải quyết vụ việc.

NGÂN ANH

Chia sẻ

TIN BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC