Người “mang nợ” với chữ Nôm

Chủ Nhật, 01/01/2017, 02:59:38
 Font Size:     |        Print
 
 Font Size:     |  

Hơn 50 năm nghiên cứu và giảng dạy khoa học, GS, TSKH Nguyễn Quang Hồng (nguyên: Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Chủ tịch Hội Ngôn ngữ học Việt Nam) đã dành cả cuộc đời mình nâng niu, lưu giữ tiếng Việt và chữ Việt - một phần hồn cốt của dân tộc. Với ông, dường như tiếng Việt ân tình là “duyên”, còn chữ Nôm là “nợ”. Duyên nợ thôi thúc ông phải đi đến tận cùng để tìm cho được cái hay, cái đẹp của tiếng Việt, của chữ Nôm…

Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Quang Hồng đón chúng tôi tại ngôi nhà nhỏ nhắn, yên tĩnh trên phố Kim Mã Thượng (Hà Nội) với nụ cười hồn hậu. Căn phòng làm việc được bài trí đơn giản, chỉ đặt một chiếc bàn nhỏ, một chiếc máy vi tính gọn nhẹ. Chiếm diện tích nhiều nhất trong căn phòng là tủ sách, trong đó nhiều công trình nghiên cứu của GS đã được xuất bản thành sách, xếp vào một góc trang trọng. Dường như đó là cả gia tài quý giá của nhà khoa học đã dành trọn cuộc đời mình cho việc nghiên cứu và giảng dạy.

Khái luận văn tự học chữ Nôm (2008) là công trình vừa được Hội đồng cấp Nhà nước đề nghị xét tặng Giải thưởng Nhà nước (2016) về khoa học và công nghệ. Chữ Nôm Việt và các văn tự theo hình mẫu chữ Hán khác ở Việt Nam đã được nhiều học giả trong nước và thế giới quan tâm, nghiên cứu từ lâu. Nhưng đây là lần đầu có một chuyên luận nghiên cứu về văn tự học chữ Nôm một cách toàn diện và sâu sắc. Trong cuốn sách này, GS Nguyễn Quang Hồng trình bày có hệ thống nhiều vấn đề cơ bản trong nghiên cứu chữ Nôm, trong đó nêu ra những khía cạnh cần đi sâu nghiên cứu về hệ thống chữ viết cổ truyền, đưa ra nhiều quan niệm, cách nhìn mới về chữ Nôm. Tác giả đã xác lập được một khung lý thuyết để phân tích và lý giải về cấu trúc và chức năng của chữ Nôm. Lần đầu tiên tác giả nêu ra các khái niệm như cấu trúc hình thể và cấu trúc chức năng, biến thể và dị thể, chức năng nội tại và chức năng xã hội của chữ Nôm. Những vấn đề đó được tác giả thảo luận trong sự đối chiếu so sánh với các hệ thống chữ vuông trong khu vực.

Hiện nay, Khái luận văn tự học chữ Nôm được các trường đại học trong nước dùng làm tài liệu học tập và tham khảo cho học viên và nghiên cứu sinh. Nhiều luận án thạc sĩ và tiến sĩ, đặc biệt ngành Hán Nôm, trích dẫn và vận dụng lý thuyết của công trình này. Không dừng lại ở đó, trong chuyên luận này, lần đầu tiên vấn đề chữ Nôm Việt hội nhập với khu vực và thế giới đã được đề cập. GS Nguyễn Quang Hồng đã dày công sưu tầm và cùng đồng nghiệp của mình dành 12 năm để xác lập các mã Unicode cho chữ Nôm, mã hóa chữ Nôm theo chuẩn quốc tế. Đây là tiền đề để đưa chữ Nôm lên bàn phím máy tính, nhờ đó chữ Nôm Việt có thể giao lưu với quốc tế và gần gũi hơn đối với giới trẻ. Mặt khác, nếu như trước đây khi nghiên cứu về chữ Nôm, các nhà khoa học phải viết bằng tay rất nhiêu khê, thì nay với bộ mã Unicode này người ta có thể tạo ra các phông chữ Nôm, theo đó chữ Nôm sẵn sàng bước lên bàn phím máy tính.

Phải đến khi GS Nguyễn Quang Hồng trở thành tác giả của một trong bảy công trình, cụm công trình được Hội đồng cấp Nhà nước đề nghị, xét tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ (2016), công chúng dường như mới biết nhiều hơn về ông. Nhưng GS Nguyễn Quang Hồng không chỉ có công trình xuất sắc Khái luận văn tự học chữ Nôm, ông là một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực ngôn ngữ học và nghiên cứu Hán Nôm với nhiều nghiên cứu có giá trị, thể hiện rất rõ qua các cuốn sách như Âm tiết và loại hình ngôn ngữ (1994/2002/2012), Truyền kì mạn lục giải âm (2001), Di văn chùa Dâu (chủ biên, 1996), Tự điển chữ Nôm (chủ biên, 2006)… Gần đây là bộ Tự điển chữ Nôm dẫn giải (2014) đồ sộ nhất từ trước đến nay. Bộ tự điển đã sưu tập và dẫn giải gần 10 nghìn hình chữ Nôm khác nhau, trong đó có tới gần ba nghìn chữ Nôm tự tạo chưa hề có mặt trong các tự điển và các phông chữ Nôm hiện đang sử dụng. Để biên soạn được bộ tự điển chữ Nôm đồ sộ này, ông đã phải sưu tầm, phiên âm, khảo cứu, phân loại, mô hình hóa gần một vạn chữ Nôm từ hàng trăm văn bản gốc. Mỗi chữ Nôm trong bộ tự điển của ông đều có thí dụ trích dẫn cụ thể từ các văn bản cổ. Thậm chí, mỗi nghĩa sử dụng khác nhau cũng có ít nhất một câu thí dụ đi kèm. Nhiều nhà khoa học đánh giá trong bộ tự điển chữ Nôm dẫn giải của ông không chỉ có chữ Nôm mà còn có cả một kho chứng tích về lịch sử và văn hóa Việt Nam. Bởi vậy, bộ tự điển này không chỉ dành cho người nghiên cứu mà hướng tới số đông công chúng. Người đọc chỉ mở ra đọc đôi ba dòng cũng có thêm kiến thức về văn hóa Việt, các cụ ở nông thôn cũng có thể mang tới đình chùa để tra tìm chữ, nghĩa trên các câu đối chữ Nôm.

Yêu chữ Nôm và muốn bảo tồn chữ Nôm, nhưng theo GS Nguyễn Quang Hồng, việc đưa chữ Hán, chữ Nôm thành bộ môn riêng để giảng dạy trong nhà trường phổ thông là không cần thiết. Thay vào đó, có thể bổ sung phần nguyên văn chữ Hán, chữ Nôm của một bài thơ, bài văn trong sách giáo khoa vào bên cạnh phần phiên âm, dịch nghĩa theo chữ Quốc ngữ; hoặc có phần chú thích nguyên văn chữ Hán, chữ Nôm bên cạnh một số từ nào đó để các em bước đầu có ấn tượng với mặt chữ Hán Nôm. Học sinh nào muốn tiếp cận gần gũi hơn với chữ Hán, chữ Nôm thì chỉ cần mở máy tính ra, dùng bộ mã Unicode là có thể gõ được chữ và tra cứu nghĩa trên mạng. Được như vậy, cũng là một cách để thế hệ trẻ không bao giờ quên đi truyền thống chữ viết của dân tộc ta, bởi không một điều gì tốt đẹp của hiện tại lại không mang những dấu ấn của quá khứ. Muốn biết quá khứ của cha ông ta như thế nào phải qua con đường văn tự. Có như vậy, mới hiểu được tinh thần, tư tưởng và có thể kế thừa truyền thống văn hóa của cha ông.

Bài và ảnh: HẠNH NGUYÊN