Tọa đàm - giao lưu trực tuyến "Hình thành và phát triển chuỗi bền vững trong nông nghiệp"
DIỄN BIẾN TRỰC TIẾP
9 giờ 02 phút

Phát biểu khai mạc của đồng chí Phan Huy Thắng – Trưởng Ban Nhân Dân điện tử

Kính thưa các quý vị,

Trước hết cho phép tôi chân thành cảm ơn các quý vị đại biểu đã dành thời gian quý báu để đến tham dự buổi tọa đàm do Ban Nhân Dân điện tử, Báo Nhân Dân tổ chức hôm nay.

Kính thưa các vị khách mời và đồng nghiệp,

Xác định sản xuất và kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp theo chuỗi giá trị là một xu hướng tất yếu. Từ năm 2010,Việt Nam thực hiện sáng kiến “Tầm nhìn mới trong nông nghiệp”, hướng tới thúc đẩy phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp toàn diện và bền vững, gắn kết với chuỗi giá trị toàn cầu và ứng phó với biến đổi khí hậu. Kết quả, Việt Nam đã có 10 nghìn nông dân tham gia các mô hình trình diễn kỹ thuật và áp dụng các tiêu chuẩn vững bền cho một số nông sản với sự phối hợp cùng các tập đoàn đa quốc gia. Nhiều đối tượng sản xuất kinh doanh đã gắn bó, phối hợp với nhau để xây dựng các chuỗi giá trị tập trung hỗ trợ và hướng dẫn nông dân kết nối với thị trường.Nhiều nông sản Việt Nam đã có mặt trên các kệ hàng thế giới.

Tuy nhiên thực tế cũng cho thấy, quá trình hình thành và phát triển các chuỗi giá trị trong nông nghiệp đã gặp phải không ít khó khăn, “rào cản” lớn mà chưa có các giải pháp tháo gỡ hữu hiệu.Tình trạng doanh nghiệp hoặc nông dân phá vỡ hợp đồng diễn ra khá phổ biến. Cả doanh nghiệp và nông dân đều thiếu vốn đầu tư mở rộng sản xuất…, số lượng chuỗi giá trị được hình thành vẫn khiêm tốn so với quy mô của nền nông nghiệp nước nhà. Đặc biệt, tình trạng được mùa, mất giá, người dân đua nhau trồng cây rồi lại chặt cây do giá sản phẩm thấp, không tìm được đầu ra cho sản phẩm tái diễn thường xuyên. Hệ quả là đời sống người dân bấp bênh, ảnh hưởng tới công cuộc xây dựng phát triển bền vững nền nông nghiệp Việt Nam.

Bên cạnh đó, chuỗi giá trị chỉ có thể bền vững khi liên kết bằng lợi ích và trách nhiệm của các bên chứ không thể bằng biện pháp hành chính. Chính vì vậy, Ban tổ chức hy vọng với nhận thức trách nhiệm của mình, các quý vị khách mời sẽ đóng góp những ý kiến quý báu và tâm huyết về các giải pháp,đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện những cơ chế, chính sách pháp luật để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đầu tư hình thành các chuỗi trong nông nghiệp, giữ hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp và nông dân trong mô hình liên kết.

Một lần nữa, thay mặt Báo Nhân Dân điện tử, tôi chân thành cảm ơn sự có mặt của các vị khách mời ngày hôm nay.

Xin chúc các quý vị mạnh khỏe! Xin chúc buổi tọa đàm thành công!

Video clip khai mạc Tọa đàm - giao lưu trực tuyến "Hình hành và phát triển chuỗi bền vững trong nông nghiệp"


09 giờ 05 phút

TS Nguyễn Minh Phong: Thưa TS Đặng Kim Sơn, quan niệm của ông chuỗi là cái gì? Vì sao Việt Nam lại phát triển chuỗi. Trên thế giới chuỗi phát triển đến đâu? Và những nhân tố, điều kiện hình thành của chuỗi, đặc biệt trong nông nghiệp sẽ như thế nào?

 

TS Đặng Kim Sơn:

Khi sản xuất nông nghiệp thoát hỏi hình thức tự cung, tự cấp thì có chuỗi, có sự liên kết từ sản xuất đến thị trường, đi theo dòng hàng hóa từ người thu mua nhỏ đến gom lại lớn, đến người xuất khẩu và chế biến. Chuỗi ban đầu nói chung gọi một cách sơ sài, chỉ là cung ứng chứ không phải chuỗi giá trị chúng ta nói đến. Chuỗi cung ứng thật sự phổ biến ở Việt Nam khi chúng ta bắt đầu bước ra thị trường. Dòng hàng hóa theo một chiều, từ người sản xuất đến người tiêu dùng, gần như không có chiều ngược lại, kể cả thông tin. Trong chuỗi này, chuỗi càng dài, chi phí càng lớn. Đây thật sự là chuỗi tiêu hao chứ không phải chuỗi cộng thêm. Sự liên kết phía trong đơn giản, có lúc bằng miệng, có lúc bằng hợp đồng nhưng nói chung mua đứt, bán đoạn. Người ta chỉ biết đối tác một lần nên các vấn đề tiêu chuẩn, giá cả, công nghệ không hình thành trong chuỗi này. 

Từ lúc chúng ta nói về tái cơ cấu nông nghiệp, đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng, chúng ta nhấn mạnh chuỗi giá trị. Về đối tượng vẫn là đối tượng đó nhưng bản chất khác nhau, chạy theo hai chiều. Tức là, thông tin từ thị trường, thị hiếu thế nào, quy mô thế nào, chính sách thế nào phải lộn trở về với người sản xuất. Người mua hàng muốn truy cập, phải biết xuất xứ hàng hóa từ đâu nên thông tin được trả lại. 

Thứ hai, là tín dụng cũng phải trả, vì cho vay không phải cho vay từng khâu mà cho vay cả chuỗi. Người bán hàng có thể ứng tiền trước cho nông dân vật tư phân bón. Công nghệ phải thống nhất, đã là thương hiệu chung thì toàn bộ khâu phải theo quy trình nhất định, nó phải gắn chặt với nhau. Thật sự chuỗi này càng dài, giá trị càng tăng, qua mỗi khâu, giá trị càng tăng lên. 

Tình hình ở nước ta rất đa dạng, chúng ta có cả chục sản phẩm có giá trị chiến lược nhưng cũng nhiều sản phẩm bán ở chợ cóc, tiêu thụ ở nhà, nhỏ lẻ, thậm chí bán ra nước ngoài nhưng ở thị trường nhỏ lẻ. Chuỗi của chúng ta có thể là mũi quan trọng nhất trong đề án tái cơ cấu nhưng thực hiện nó rất chật vật.

Nhìn chung chúng ta vẫn ít chuỗi hoàn chỉnh. Có một số doanh nghiệp làm nhưng chuỗi không lớn lắm nhưng hiệu quả tốt. Như sản xuất rau, hoa chất lượng cao ở Đà Lạt, đi qua đường hàng không, vận chuyển nhanh đến thị trường khác, đi thẳng vào siêu thị với tên gọi Việt Nam cụ thể.

Còn đa số chuỗi ở khâu đầu, thương lái thu gom của nhiều hộ nông dân, không qua doanh nghiệp.. Nên nông dân đã phân tán, hệ thống thu gom cũng phân tán. Ở giữa tương đối tập trung hơn nhưng tỷ lệ chế biến sâu, cao của chúng ta rất thấp. Khâu cuối cùng thì phần lớn qua trung gian quốc tế. Phần lớn sản phẩm của Việt Nam với số lượng rất lớn như cà phê, lúa gạo đi vào thị trường thế giới nhưng vẫn không có tên tuổi, không có giá trị gia tăng cao.

Chúng ta đang tiến vào giai đoạn xây dựng những chuỗi giá trị, nhưng cả một chuỗi bài bản cho những nông sản chiến lược và nông sản nhỏ lẻ thì vẫn là thách thức lớn. Chuyện này không chỉ riêng cho lúa gạo, tiêu, điều, mà gà đồi Yên Thế, nước mắm Phú Quốc cũng thế..., phải đấu tranh vất vả để xây dựng thương hiệu. 

Đây là hướng đi tất yếu, đúng đắn. Chúng ta đã nhìn nhận ra vấn đề nhưng đang ở giữa cuộc chiến mà để đạt được mục tiêu cuối cùng phải nỗ lực rất cao.

Chuỗi liên kết phải chăng là một khái niệm mở. Thứ nhất là tổ chức thể chế, tức là nông dân gắn với buôn bán trung gian, lại gắn với các doanh nghiệp chế biến, với doanh nghiệp xuất khẩu hoặc kinh doanh trong mạng lưới lưu thông. Về mặt cơ sở hạ tầng thì nó cũng là một hệ thống kết nối từ đồng ruộng cho đến là kho tàng, bến bãi, máy móc, đến hệ thống trung gian vận chuyển, hệ thống chế biến, hệ thống phân phối... Tức là với cơ sở hạ tầng, về mặt phần cứng nó là một hệ thống, về mặt phần mềm nó cũng là một hệ thống tiêu chuẩn thương hiệu, tên gọi. Như vậy, nó không đơn thuần chuỗi là dòng hàng hóa hay là một hệ thống gắn bó giữa các tổ chức với nhau, mà chuỗi giá trị thật sự nó là một thể thống nhất. Vì vậy, việc phát triển các giá trị nó gắn liền với các quá trình phát triển thay đổi công nghệ, chính sách và thể chế.


09 giờ 07 phút

TS Nguyễn Minh Phong: Những khái niệm này đã được bổ sung qua thời gian, rõ ràng chuỗi là khái niệm mở ít nhất gồm bốn hợp phần như TS Đặng Kim Sơn nói, Về vấn đề này thì ông Nguyễn Hồng Sơn có bổ sung gì không?

 

Cục trưởng Cục Trồng trọt Nguyễn Hồng Sơn:

TS Đặng Kim Sơn nói khá đầy đủ, chúng tôi chỉ bổ sung thêm: trước hết chúng ta nói chuỗi giá trị liên kết, ba nội dung (công nghệ, chính sách và thể chế) có thể là một cách hiểu, đúng và khác nhau. Thí dụ như trong lĩnh vực trồng trọt có được những sản phẩm cuối cùng qua khâu sản xuất, chế biến, sơ chế, chế biến sâu... 

Còn chuỗi giá trị là mạch giải, chúng ta thường nói Việt Nam xuất thô, chúng ta chưa chế biến mang lại giá trị gia tăng, và cuối cùng giá trị sản phẩm phải được kết tinh của từng công đoạn với các giá trị của từng công đoạn đó. Rõ ràng chúng ta kết thúc quá trình công đoạn ngắn thì giá trị gia tăng sẽ thấp hơn và giá trị hàng hóa sẽ thấp hơn rất nhiều; vì vậy mong muốn của chúng ta là có một chuỗi mang lại giá trị gia tăng, từ đó chúng ta liên kết để có sản phẩm cuối cùng có giá trị tăng cao, có chiều sâu trong chế biến.

Chúng ta thấy các mối liên kết TS Đặng Kim Sơn nói trước là rất sơ khai giữa người sản xuất và người thu mua buôn bán. Muốn có giá trị gia tăng phải có mối liên kết giữa người sản xuất, người chế biến, lưu thông hàng hóa. Đây không phải mối quan hệ cắt đoạn, mà đây rõ ràng là mối quan hệ hữu cơ, theo đó người sản xuất có tạo ra nguyên liệu tốt thì người chế biến mới có nguồn vật tư, nguyên liệu đầu vào tốt để tạo ra một sản phẩm có chất lượng tốt.

Tương tự, ngành chế biến tạo ra sản phẩm tốt mà không có quản lý không có liên kết chặt chẽ tốt, người sản xuất, đây là mối liên kết hữu cơ, và để tạo mối liên kết hữu cơ đó thì các thành viên trong đó phải liên kết theo chuỗi, có mối quan hệ chặt chẽ và vì quyền lợi của nhau để cùng hướng đến giá trị cao hơn, đồng thời phải được chia sẻ trong chuỗi liên kết đó.

Lâu nay có hiện trạng, đó là nhiều doanh nghiệp không có ý thức về chuyện này, với mục tiêu xây dựng thương hiệu bài bản từ khâu nguyên liệu đầu vào, tổ chức sản xuất; trong đó nhiều doanh nghiệp còn quan niệm mua đứt, bán đoạn rồi chế biến. Chính vì vậy chất lượng đầu vào của hàng hóa không cao, bởi người nông dân chưa hưởng. Đấy là vấn đề tôi bổ sung thêm thống nhất với nhau về quan điểm phát sinh chuỗi.

Về mặt khái niệm thì chuỗi giá trị là tất cả những hoạt động theo thứ tự trong một ngành mà sản phẩm cuối cùng phải đi qua, trong đó mỗi hoạt động đều mang lại giá trị nào đó và kết dư tổng giá trị ở sản phẩm cuối cùng. Với cách hiểu như vậy thì trong sản xuất trồng trọt, sản phẩm cuối cùng của mỗi loại cây trồng được coi là kết dư giá trị của cả chuỗi giá trị. Những năm qua mặc dù tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp đều tăng nhưng là tăng về sản lượng do mở rộng diện tích, tăng năng suất.. nhưng chưa tập trung tăng về giá trị hay hiệu quả kinh tế. Do vậy sản lượng có thể tăng nhưng hiệu quả kinh tế chưa hẳn đã tăng.

Hiện tại ruộng đất đang được chia lẻ để giao cho các hộ gia đình sử dụng, mặc dù các địa phương đã tiến hành dồn điền đổi thửa nhưng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình vẫn rất nhỏ lẻ và manh mún, thiếu liên kết và mạnh ai nấy làm nên năng suất đơn lẻ có thể tăng nhưng chất lượng cũng như gia trị sản phẩm hàng hóa thấp. Bình quân diện tích đất sản xuất ở vùng đồng bằng chỉ khoảng 0,5-1 ha/hộ, nên sản xuất chủ yếu mang tính chất hộ gia đình nhỏ lẻ. Với quy mô như vậy sản xuất hàng hóa lớn sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc đầu tư mua sắm tư liệu sản xuất, xây dựng hạ tầng đồng bộ, áp dụng tiến bộ kỹ thuật cũng như chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

Để giải quyết vấn đề trên, theo tôi việc tổ chức liên kết sản xuất tạo cánh đồng hoặc vùng sản xuất quy mô lớn sản xuất hàng hóa hình thành chuỗi. Theo đó, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa giúp nâng cao giá trị sản phẩm và hiệu quả sản xuất cũng như tái cơ cấu ngành trồng trọt là chủ trương được khuyến khích, áp dụng đối với tất cả các loại cây trồng trong sản xuất hiện nay. 

Đơn cử như nếu các hộ dân vùng đồng bằng sông Cửu Long tự trồng lúa đơn lẻ sẽ xảy ra tình trạng mỗi hộ gia đình làm đất vào một thời điểm, gieo sạ những giống khác nhau với thời vụ khác nhau nên sẽ có nhiều sản phẩm lúa gạo khác nhau được thu hoạch. Do vậy sản phẩm sẽ là loại gạo tạp nên giá bán sẽ thấp.

Mặt khác do quy mô từng thửa ruộng nhỏ nên chi phí cho làm đất và thu hoạch cao; thời vụ gieo sạ khác nhau nên công tác bảo vệ thực vật sẽ khó khăn hơn nên chi phí sẽ cao hơn. Trong khi, nếu các hộ gia đình đó được tổ chức lại để tập trung sản xuất thành cánh đồng lớn theo chuỗi, mỗi công đoạn sẽ được tổ chức hoạt động một cách khoa học như cùng nhau làm đất, gieo sạ cùng loại giống nên đồng bộ được khâu chăm sóc, thu hoạch và sản phẩm đồng nhất nên giá bán lúa sẽ cao hơn.

Như vậy sản xuất theo chuỗi giá trị khép kín sẽ mang lại hiệu quả sản xuất hơn hẳn so với sản xuất truyền thống đơn lẻ.


09 giờ 10 phút

TS Minh Phong: Vâng, cảm ơn ông Nguyễn Hồng Sơn, rõ ràng là sự bổ sung của ông đã giúp chúng ta hiểu được rõ nét hơn. Chuỗi ở đây là tổng hợp của chuỗi cung ứng cũng như là chuỗi giá trị, đặc biệt là chuỗi giá trị được thể hiện ở mức độ cao hơn, nó bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật cũng như là sự chia sẻ lợi ích của quá trình tăng trưởng này. Có thể nói chúng ta càng đi sâu càng thấy ý nghĩa của nó. Thưa ông Nguyễn Hồng Sơn, với tư cách là Cục trưởng Cục Trồng trọt, ông có thể nêu ra một số thí dụ trong nước mình trong ngành trồng trọt đã có bao nhiêu chuỗi được hình thành cũng như là triển vọng của nó?

 

Cục trưởng Cục Trồng trọt Nguyễn Hồng Sơn: Có thể nói hiện nay trong lĩnh vực trồng trọt có mấy chuỗi liên kết, liên kết các cơ sở liên kết với nhau hình thành liên kết ngang để tạo thành chuỗi sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Chúng ta đều biết đặc thù sản xuất nước ta là sản xuất manh mún, quá nhiều hội tham gia vào sản xuất và kinh doanh, vì vậy nếu người nông dân không liên kết với nhau thì khó bảo đảm được quy mô sản xuất hàng hóa. Thứ hai, đặc biệt trong công tác giám sát nếu như mỗi người một cách làm sẽ không có chất lượng đồng đều và như vậy những doanh nghiệp gian dối làm ảnh hưởng đến những doanh nghiệp làm ăn chân chính và lúc đó người ta đua nhau làm gian dối vì vậy cần hình thành lên các nhóm, tổ nhóm sản xuất rau an toàn.

Hiện nay có nhiều doanh nghiệp chế biến liên kết với nhau hình thành lên những chuỗi liên kết như Công ty xuất nhập khẩu chế biến nông sản Đồng Giao đã có những khâu liên kết rất chặt. Để có nguyên liệu đầu vào tốt thì cần chia sẻ lợi ích với người dân thông qua giá thu mua, cũng như sự tin cậy của người tiêu dùng. Đấy là mô hình liên kết tương đối là phổ biến.

Như ở phía Nam hiện nay có những chuỗi liên kết là những cánh đồng mẫu lớn liên kết người nông dân thống nhất một quy trình sản xuất, sau đó doanh nghiệp thu mua những sản phẩm đó. Tuy nhiên nếu chúng ta so sánh với yêu cầu của chuỗi giá trị thì thấy rằng ở đâu đó vẫn còn sự rời rạc, tản mác, manh mún. Doanh nghiệp và người nông dân cũng chưa hiểu đầy đủ, sâu sắc về chuỗi giá trị.

Như anh Đặng Kim Sơn nói liên kết của chúng ta mới ở mức sơ khai, bây giờ có sâu hơn một chút nhưng thật sự nó vẫn chưa mang đậm hình thái chuỗi liên kết. 

TS Nguyễn Minh Phong: Thưa ông Nguyễn Hồng Sơn, ông vừa nói về ba mô hình của liên kết chuỗi. Vậy những sản phẩm cụ thể là gì? Đến nay, chuỗi chỉ ở trong nước hay xuyên ra biên giới. Và trên thế giới ghi nhận Việt Nam ở mức độ nào, hay chỉ 10% như chúng ta đã thấy, ông có bình luận gì?

 

Cục trưởng Cục Trồng trọt Nguyễn Hồng Sơn:

Hiện nay chúng ta có ý thức tốt trong việc xây dựng chuỗi, tạo ra giá trị sản phẩm có giá trị cao hơn. Các doanh nghiệp chế biến trong nước có thể đưa hàng hóa ra nước ngoài. Có giá trị gia tăng từ khâu chế biến, nhất là trong lĩnh vực cafe, hoa quả. Nhiều hàng hóa khác của chúng ta đã có mặt trên thế giới như cà phê và rau quả.

Tuy nhiên, chúng ta thấy lượng này chưa nhiều và chưa phổ biến. Có nhiều thứ hình thành phần lớn xuất thô nhiều. Có nhiều vấn đề, đó là về công nghệ, năng lực đầu tư, xây dựng thương hiệu thị trường để chúng ta có thể chiếm lĩnh được thị trường hoặc có niềm tin của thị trường quốc tế.  

Trong đó, có vấn đề khó khăn nhất là khó khăn liên kết xâu chuỗi. Nếu các doanh nghiệp muốn chế biến sâu, chế biến tốt, để có sản phẩm vượt trội ra thế giới thì phải có cung ứng đầu vào tốt, thì chúng ta mới có sản phẩm chế biến có giá trị cao thì lúc đó mới có đơn hàng trên thế giới. Số lượng này chưa phải là lớn nên đang có tình trạng xuất thô nhiều hơn. 

 


09 giờ 20 phút

TS Nguyễn Minh Phong: Thưa Cục phó Cục Chăn nuôi Tống Xuân Chinh, quan điểm của ông về chuỗi, và sự phân biệt giữa chuỗi trong chăn nuôi và trồng trọt. Đặc biệt bức tranh về chuỗi trong chăn nuôi hiện nay và những dự báo?

 

Cục phó Cục Chăn nuôi Tống Xuân Chinh: Trước hết tôi đồng quan điểm và chia sẻ ý kiến của hai anh Sơn. Trước hết nói về chuỗi trong nông nghiệp của chúng ta thì phải xuất phát định nghĩa phải rõ ràng. Có nhiều chuỗi liên ở mức độ sơ khai: chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất. Nhưng mô hình của thế giới thì chuỗi giá trị là mô hình phát triển cao nhất của các chuỗi trong liên kết. Ông Michael Poster người Mỹ, đưa ra định nghĩa: Chuỗi giá trị là khi các doanh nghiệp tiếp nhận tất cả cá nguồn nguyên liệu ban đầu thông qua các quá trình sản xuất và sau đó đưa các giá trị gia tăng thông qua các sản phẩm này qua quá trình sơ chế, chế biến, và doanh nghiệp bán sản phẩm cuối cùng tới người tiêu dùng. Toàn bộ gọi là chuỗi giá trị.

Chúng ta thấy rằng chuỗi giá trị có thể có một chủ thể doanh nghiệp đứng đầu hay một tổ chức thương mại đứng đầu nhưng điểm mấu chốt là dù liên kết với bao nhiêu thành phần thì phải có một tổ chức kinh tế đứng đầu quản trị xuyên suốt mới liên kết được toàn bộ thành phần trong đó. Việt Nam cũng như thế giới, doanh nghiệp là thành phần vô cùng quan trọng.

Điểm thứ hai trong chăn nuôi là ngành có sản phẩm quan trọng. Chúng ta phải xuất phát từ góc độ an ninh lương thực. Trước đây khái niệm này chúng ta mới định nghĩa làm sao đủ năng lượng cho con người, chủ yếu nhằm đến sản phẩm trồng trọt, ngũ cốc. Bây giờ xã hội đã phát triển, an ninh lương thực là bảo đảm cho con người làm sao tiếp cận được với toàn bộ lương thực, thực phẩm, đồ uống... và làm sao tiếp cận các sản phẩm có sẵn.

Chúng tôi có nhiều sản phẩm chăn nuôi hoàn chỉnh, như sữa, mật ong,... và các sản phẩm phụ trong ngành chăn nuôi. Đặc trưng sản phẩm chăn nuôi khác sản phẩm trồng trọt là phải có quá trình chế biến ngay, bảo đảm và kiểm soát được an toàn thực phẩm. Đây là động lực để các tác nhân trong chuỗi sản xuất phải liên kết với nhau. 

Để bảo đảm an toàn tôi đưa ra một thí dụ nếu người nông dân sản xuất ra sữa tươi và con bò, nếu như không liên kết sản xuất thì không thể tiêu thụ được sữa, và bán ở trong làng quê cũng không được, nếu không biết cách bảo quản thì sữa sau bốn tiếng đồng hồ sẽ nhiễm khuẩn. Chính vì thế, phải chủ động liên kết, dứt khoát phải liên kết không thì không có cách nào tồn tại được.

Có điểm rất khác biệt với trồng trọt của anh Sơn thì thóc có thể đổ vào bồ, có thể giữ rất dễ, ngô cũng vậy, bên tôi thì rất khó anh ạ.

Hiện nay chúng tôi đã có rất nhiều chuỗi về sữa, chuỗi về thịt, về trứng và có cả chuỗi về mật ong để xuất khẩu. Việt Nam xuất khẩu từ 150 triệu USD mật ong cho cả khu Bắc Mỹ cũng như châu Âu. Còn đối với hệ sản phẩm sữa thì một trong các mô hình "đại gia" liên quan đến sữa và sản phẩm sữa đó là Vinamilk và TH. Nhìn vào chuỗi giá trị của hai công ty này sẽ thấy khác biệt.

Đối với TH là một chuỗi giá trị duy nhất của một chủ thể, theo đó TH bao trọn gói từ bắt đầu cho đến sản phẩm cuối cùng và ra thị trường, nhưng Vinamilk cũng là một chuỗi giá trị có nhiều liên kết. Một trong cái chuỗi quan trọng nhất đó là liên kết với người nông dân để sản xuất và sữa tươi, Vinamilk đã chủ động sản xuất một phần sữa của chính mình, phần còn lại họ liên kết với khoảng 110 thành viên là bà con nông dân để thu mua sữa. Đây là hai cái điển hình cho ngành sữa.

Ngoài ra, các sản phẩm khác của chúng tôi cũng có liên kết và đây cũng là định hướng quan trọng để tái cơ cấu ngành chăn nuôi. Đó là hình thành các liên kết sản xuất, liên kết cung ứng và cuối cùng là phát triển đến mức độ cao hơn.


09 giờ 40 phút

TS Nguyễn Minh Phong: Có thể chúng ta rất mừng vì trong chăn nuôi có những sản phẩm chuỗi với những thương hiệu liên quan đến thịt, sữa, trứng, mật ong và một số chuỗi khác. Thưa ông Tống Xuân Chinh, nông nghiệp Việt Nam một trong những lĩnh vực  mấy nghìn năm có vài chục sản phẩm trong đó có rất nhiều sản phẩm chủ lực chiếm trên dưới gần 40 tỷ USD hằng năm, tại sao chỉ vài sản phẩm như vậy hình thành nên chuỗi? Các sản phẩm khác thì sao, nói cách khác theo ông, điều kiện hình thành nên chuỗi trong lĩnh vực chăn nuôi như thế nào?

 

Cục phó Cục Chăn nuôi Tống Xuân Chinh: Quan điểm của chúng tôi về điều kiện hình thành chuỗi như sau: điều kiện này giữa chăn nuôi với các sản phẩm lĩnh vực khác không có sự khác biệt lắm. Và tôi có thể đứng trên góc độ quản lý về chăn nuôi đối với chuỗi có một số điều kiện như thế này: Điều kiện thứ nhất vô cùng quan trọng đối với chuỗi chăn nuôi là phải có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức thể chế cho chuỗi này, nếu như không có thì Nhà nước rất khó xây dựng hình ảnh các chính sách hỗ trợ chuỗi và các tác nhân trong chuỗi sẽ cư xử với nhau rất khó và tạo ra sự bình đẳng trong chia sẻ lợi nhuận. Thí dụ, tôi đưa ra các hợp đồng ký giữa các doanh nghiệp, nhưng cuối cùng khi giá lên hoặc tăng hay vì một điều kiện gì đấy bà con sẵn sàng bẻ kèo bán cho doanh nghiệp khác chứ không phải cho doanh nghiệp ký hợp đồng. Xử lý vấn đề này như thế nào, vai trò Nhà nước và các hiệp hội như thế nào, thì theo tôi phải hình thành một hệ thống luật pháp, đặc biệt phát triển thể chế và xây dựng chính sách cho phát triển chuỗi giá trị này.

Điều kiện quan trọng thứ hai, nếu như các văn bản pháp luật không ai làm chuỗi thì chẳng làm gì cả, thế thì nó phải có tác nhân để hình thành quản trị toàn bộ các chuỗi ấy và chúng ta cũng không mong chờ gì hiệp hội nhiều, và cũng không mong chờ gì bà con nông dân. Chúng ta phải khẳng định vai trò đầu tàu của các doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn lớn, bởi họ có kiến thức về thị trường, có thị trường và có kiến thức về kinh doanh quản trị đặc biệt vốn đầu tư cho toàn bộ chuỗi giá trị, vấn đề quan trọng cuối cùng là họ bán được sản phẩm có kết tinh giá trị gia tăng trong đấy lên các thị trường khác nhau, hướng tới thị trường quốc tế để nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu. Vai trò quan trọng này nông dân không tự làm được, hợp tác xã hay tổ hợp tác cũng rất khó, mà phải là doanh nghiệp.

Vì vậy, Nhà nước phải có chính sách khuyến khích doanh nghiệp hình thành chuỗi, qua đó họ mới liên kết và tiêu thụ sản phẩm. Tôi cũng xin khẳng định vai trò của các chuỗi này rất quan trọng, nhưng quan trọng nhất bán được sản phẩm cho người nông dân trên thị trường trong nước và quốc tế.

Tôi cho rằng điều kiện thứ ba nữa là khi có liên kết thì chúng ta sẽ góp phần tăng quy mô, tăng chất lượng và vấn đề mấu chốt phải kiểm soát được truy xuất được nguồn gốc. Muốn vươn ra thị trường thế giới thì đây là điều kiện vô cùng quan trọng. Khi chúng ta không biết được sản phẩm này từ doanh nghiệp nào chế biến, được phát triển như thế nào, nếu xảy ra tranh chấp thương mại và an toàn thực phẩm rất khó giải quyết. Tôi nghĩ, vấn đề an toàn thực phẩm rất khó giải quyết. Chúng ta biết, khi xuất khẩu ra thị trường cần một phương pháp liên kết an toàn thực phẩm, nếu không toàn bộ sản phẩm ấy và doanh nghiệp sẽ trên bờ phá sản.

Thứ tư, phải có truyền thông tốt để tạo ra sự nhận thức trong cộng đồng xã hội, nhất là cộng đồng người sản xuất và cộng đồng tiêu dùng, để người ta biết thế nào là chuỗi giá trị, thế nào liên kết sản xuất, chuỗi cung ứng và thế nào là an toàn thực phẩm, lựa chọn thế nào là thông minh.

Trong chăn nuôi, người tiêu dùng phải biết rằng, ăn thịt đông lạnh tốt hay không tốt hơn so với thịt tươi. Đó là cả lĩnh vực khoa học lớn. Nhưng Việt Nam khi hỏi người tiêu dùng, để nói điều này không phải phổ biến, thông thường. Vì thế, truyền thông phải đưa vào để giúp người dân nhận thức điều này.

Một điểm nữa, các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương phải có sự đồng lòng, nhất trí để hỗ trợ, hình thành các liên kết. Và chính sách của Trung ương cũng như địa phương cũng giúp liên kết, đặc biệt các chuỗi giá trị hình thành, phát triển được. Chúng ta phải có chính sách hỗ trợ về đất đai, cơ sở hạ tầng, tín dụng, truyền thông, quảng cáo, marketing sản phẩm... Vai trò ban đầu của Nhà nước dần dần,  thì khi phát triển mức độ nhất định, lúc đó sự hỗ trợ của Nhà nước giảm đi, chủ yếu làm trọng tài. Nhưng tôi nghĩ, giai đoạn ban đầu như Việt Nam, vai trò của Nhà nước rất quan trọng.

Điểm cuối cùng, muốn chuỗi chiến thắng được với các sản phẩm không phải chuỗi cũng là một vấn đề. Thí dụ trong chăn nuôi, một sản phẩm được giết mổ an toàn trong cơ sở giết mổ hiện đại, rất khó chiến đấu với sản phẩm thịt bán ngoài thị trường được giết mổ trong nhà dân, bởi vì bán giá như nhau. Vì thế, nếu như đầu tư vào cơ sở lớn, mà không tạo ra giá thịt gia tăng thì rất khó bền vững để phát triển chuỗi.

Tôi cho rằng, về lâu dài, và ngay bây giờ phải làm là phải rà soát, tiến tới có lộ trình cắt giảm và sau đó phải cấm hẳn với một số cơ sở sản xuất kinh doanh giết mổ chế biến nhỏ lẻ, không bảo đảm an toàn thực phẩm.

Đây là lộ trình rất lớn mà Nhà nước phải có chính sách, đặc biệt Bộ Nông nghiệp phải có quan điểm về vấn đề này, xây dựng lộ trình giải quyết với vấn đề này, đặc biệt là đối với cơ sở giết mổ.

Khi chúng ta đầu tư vào khoa học công nghệ để cho ra một sản phẩm thì thứ nhất phải là có cái gì để người tiêu dùng nhận biết sản phẩm của anh khác biệt với sản phẩm thông thường. Đó là thông qua nhãn mác, chỉ dẫn địa lý... nhiều thứ nữa. Thứ hai tôi với tư cách người tiêu dùng bỏ tiền ra trả cho ông để có sản phẩm an toàn chất lượng thì phải xứng đáng với đông tiền bỏ ra có nghĩa độ tin cậy của người tiêu dùng phải được xác nhận. Đó là hai yếu tố quyết định người ta sẵn sàng bỏ tiền ra để mua sản phẩm.

Chúng ta cần phải hoàn thiện, chứ chúng ta có bao nhiêu cửa hàng rau sạch, thực phẩm sạch... nhưng người tiêu dùng luôn băn khoăn nó có đúng hay không. Mấu chốt ở đó. 


09 giờ 55 phút

TS Nguyễn Minh Phong: Rõ ràng người tiêu dùng có quyền để đòi hỏi sản phẩm xứng đáng. Để so sánh, thưa ông Sơn, theo ông có sự khác nhau giữa chuỗi trồng trọt và chăn nuôi hay không? Hai chuỗi này có liên kết với nhau hay không hay tách biệt với nhau?

 

Cục trưởng Cục Trồng trọt Nguyễn Hồng Sơn: Xây dựng chuỗi, đặc biệt là chuỗi giá trị trong chăn nuôi không khác biệt nhiều. Nhưng về điều kiện có một số đặc thù khó khăn hơn. Tôi đồng tình với anh Chinh về những điều kiện hình thành chuỗi.

Tôi nhấn mạnh về điều kiện cần thiết có chủ thể trung tâm. Chúng ta hay nói rằng không có sản phẩm an toàn nhưng nếu doanh nghiệp đặt ra bài toán cho nông dân thì họ cũng có ý thức chuyện này. Nhưng có bảo đảm người nông dân làm như vậy đã đưa ra giá trị thực sự hay chưa. Tôi nhấn mạnh đối tượng vẫn phải là doanh nghiệp. Nhiều người hỏi chúng tôi sản xuất ra rau VietGap mà không nói được giá của VietGap.

Như vậy thì một bà có thể xây dựng được thương hiệu hay không? Có đủ kinh phí để xây dựng được thương hiệu hay không? Các doanh nghiệp nào trả cho bà và nếu bà cam kết được thì người ta trả cho hơn chưa? Cái này thì doanh nghiệp phải làm đó là cái thứ nhất.

Tôi cho rằng để có thể liên kết theo chuỗi thì cả doanh nghiệp và người nông dân phải có năng lực và nhận thức đúng được vấn đề này. Về nhận thức trước hết phải nhận thức đầy đủ về quyền lợi và trách nhiệm. Thông thường người nông dân chỉ nghĩ đến quyền lợi của mình nên là rất khó để gặp nhau. Thứ hai về năng lực chúng ta cứ nghĩ đơn thuần chúng ta sản xuất ra sao thì chúng ta có lợi thế để yêu cầu ông khác đến mua chúng tôi bán. Khi chúng ta đã có phát triển một nền kinh tế hàng hóa theo chuỗi để mang lại giá trị thì bản thân thành viên trong chuỗi đó cả doanh nghiệp và người nông dân đều phải có một năng lực một cách nhất định: Năng lực về pháp lý, năng lực về quản trị chứ không thì rất khó. Nếu chỉ có doanh nghiệp có năng lực nhưng người nông dân lại không hiểu về pháp ly, không hiểu về kỹ thuật, pháp luật thì bảo đảm làm sao sản phẩm tôi dành cho ông doanh nghiệp này để truy xuất được nguồn gốc, chất lượng thì rất khó. Có một thực tế khi chúng ta hướng dẫn nông dân ghi chép để truy xuất nguồn gốc nhưng doanh nghiệp người ta lại ngại ghi chép. Như vậy cái nhận thức và năng lực của người dân là chưa tốt.

Cái thứ ba như anh Chinh đã nói cái hành lang pháp lý của chúng ta trong trồng trọt và chăn nuôi có những điểm giống nhau nhưng cũng có những điểm đặc thù đó là ngoài hành lang pháp lý về thực hiện các hợp đồng kinh tế. Thực ra pháp luật cũng không nhất thiết là phải điều chỉnh các hợp đồng kinh tế là bắt buộc các đối tác phải thực hiện nghiêm túc nhưng mà chính nông dân chúng ta là những quy mô sản xuất nhỏ lẻ. Do đó, hành lang ở đây phải thêm một động tác là chính quyền hỗ trợ để các đối tác gặp nhau thực hiện hợp đồng nghiêm túc thôi. Đối với trồng trọt ngoài việc đó công tác quy hoạch về sử dụng đất đai và quy hoạc về liên kết sản xuất không thực hiện nghiêm túc thì khó làm lắm

Nhiều công đoạn chưa liên kết được cho phụ phẩm, đặc biệt phụ phẩm trong sản xuất, chúng ta bỏ lãng phí rất nhiều.

Thí dụ, nếu cây ngô, nếu chúng ta ý thức sử dụng trong chăn nuôi và liên kết chặt chẽ thì chưa chắc phải thu hoạch vào giai đoạn ngô già, hoặc phải phơi khô. Có thể kết thúc thu hoạch ngô non một chút, ngành chăn nuôi phải nghĩ dùng đến giá trị non phải kết thúc thế nào. Ví dụ, chúng ta xay thành sữa ngô chứ không phải bột ngô cho lợn uống thì lập tức có được toàn bộ cho đại gia súc.

Chúng ta chỉ nghĩ đến cố gắng bóc trần ngô, phơi trên đồi như ở Sơn La đến vài tháng, bị mối mọt khiến toàn bộ thân ngô không sử dụng được gì cả. Chúng ta trồng cây ngô cao nhưng lấy được mỗi bắp, còn toàn bộ sinh khối đó lãng phí vất đi. Cái này chúng ta chưa tính đến trong chuỗi liên kết giữa trồng trọt với chăn nuôi. 

Cảm ơn anh Phong đã nhắc lại chúng tôi điều này để chúng tôi có ý thức hơn trong cả hai lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi. Trước hết là hoạch định chính sách của các nhà chính sách và các doanh nghiệp cũng phải hình thành liên kết như thế. 

Bạn đọc Dương Thúy Quyên ở Hà Nội gửi kiến nghị đến Tọa đàm. 

 

Bạn Quyên viết: Là một doanh nghiệp phân phối nông sản thực phẩm hữu cơ, an toàn từ năm 2011, chúng tôi nhận thấy sự quan tâm và vào cuộc của toàn bộ hệ thống từ người dân, nhà sản xuất, doanh nghiệp, chính quyền và các bộ ngành. Tuy nhiên để liên kết chuỗi được hình thành bền vững và nhân rộng, chúng tôi có một số đề xuất sau:

Thứ nhất, doanh nghiệp chưa có được đầy đủ thông tin chính thống về nguồn sản xuất và cung cấp sản phẩm nông sản, thực phẩm an toàn từ một cơ quan có thẩm quyền tại từng địa phương. Hiện tại doanh nghiệp có thực hành sản xuất tốt thường phải tự đi tiếp thị sản phẩm, doanh nghiệp cần đầu vào cho thương mại lại mất công sức và thời gian tìm nhà cung cấp, trong khi cơ quan chính thống truyền thông cho nhà cung cấp đạt chuẩn lại chưa có được định vị rõ ràng.

Doanh nghiệp sản xuất chế biến khi muốn tham gia vào chuỗi cung ứng thường phải đạt chứng nhận. Tuy nhiên các hộ nông dân nhỏ lẻ chưa đủ năng lực liên kết để tạo ra vùng sản xuất có quy mô đáp ứng yêu cầu được cấp chứng nhận. Họ rất cần một người đứng đầu liên kết lại thành HTX hoặc một doanh nghiệp rót vốn, đầu tư kỹ thuật, công nghệ và bao tiêu đầu ra bảo đảm tiêu chuẩn của doanh nghiệp đó. Phải chăng nên có đơn vị tập hợp các cá nhân, nông hộ có nhu cầu tham gia chuỗi để tạo thành một hồ sơ năng lực, đơn vị này sẽ đi tiếp thị hoặc lập một trang thương mại điện tử để tiếp cận các doanh nghiệp tiềm năng và đàm phán về khả năng hợp tác. Vì hiện tại nông dân thiếu thông tin, thiếu kỹ năng, thiếu cả môi trường để có thể tiếp cận nguồn lực rất lớn của xã hội đang quan tâm đến vấn đề nông nghiệp tự nhiên và an toàn. 

Có thể Nhà nước hoặc từng địa phương thành lập một mô hình sản xuất nông sản theo hướng an toàn, tại đó có đầy đủ thông số, tài liệu và kỹ thuật viên hướng dẫn để thực hành. Nhận chuyển giao công nghệ hoặc hỗ trợ liên kết các hộ gia đình nhỏ lẻ thành một nhóm để phát triển mô hình lớn để tận dụng nguồn lực về máy móc, trang thiết bị, vật tư và nhân công. Khi có mô hình lớn đáp ứng yêu cầu, sản phẩm đầu ra có thể được cam kết cung cấp cho một nhóm nhà phần phối có nhu cầu về sản phẩm. Hai bên gặp nhau ở điều kiện chủng loại, chất lượng sản phẩm cũng như mùa vụ theo đơn đặt hàng. 

Thứ hai, Sản phẩm nông sản hữu cơ tuy đã có nhưng để được giấy chứng nhận phải mất rất nhiều chi phí, công sức và phải mời các tổ chức tư vấn, đánh giá từ nước ngoài. Các đơn vị tự canh tác theo phương pháp hữu cơ gặp khó khăn về vấn đề giám sát, nhân rộng mô hình và chứng minh với người tiêu dùng. Hiện tại việc kinh doanh, bán hàng dựa vào uy tín và sự cam kết của chính người làm chủ doanh nghiệp chiếm tỉ lệ lớn. Việc đó ảnh hưởng đến hệ sinh thái chuẩn của nông nghiệp hữu có và mai một ý thức của chính doanh nghiệp sản xuất, sự nhận biết của người tiêu dùng về sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Các dự án của nước ngoài đầu tư cho lĩnh vực này tương đối lớn, nhưng sau khi kết thúc dự án, những đơn vị điều phối phải rất vất vả để duy trì hệ thống. Đã đến lúc phải có sự tham gia tích cực hơn của cả hệ thống để ban hành các chế tài hợp lý và một đơn vị đủ khả năng tư vấn, giám sát và cấp giấy chứng nhận Nông sản hữu cơ hoặc Trang trại hữu cơ của Việt Nam?


10 giờ 05 phút

TS Nguyễn Minh Phong: Thưa Giám đốc Trung tâm Phát triển chăn nuôi Hà Nội Tạ Văn Tường, với tinh thần các diễn giả đã đề cập, quan điểm của ông thế nào về chuỗi, đặc biệt vai trò chủ thể trong chuỗi, nhất là trong chăn nuôi của ông. Hơn nữa, vai trò của Trung tâm trong hình thành chuỗi như thế nào? 

 

Giám đốc Trung tâm Phát triển chăn nuôi Hà Nội Tạ Văn Tường:

Đây là phạm trù lớn. Quả thật, phát triển nông nghiệp nói riêng có phát triển được hay không, dứt khoát phải dựa vào chuỗi. Việc xây dựng để liên kết tác nhân với nhau, thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng đến sản phẩm nào đó, chỉ có làm chuỗi mới bảo đảm an toàn thực phẩm, đáp ứng được yêu cầu người tiêu dùng. Không làm chuỗi không đáp ứng được việc như vậy.

Chúng tôi cho việc chuỗi liên kết tất cả các tác nhân với nhau, tác nhân từ cung cấp đầu vào cho sản xuất đến cả chuỗi vận chuyển, sơ chế, chế biến, giết mổ, tiêu thụ đến người tiêu dùng. Nội dung hội thảo hôm nay rất quan trọng.

Chúng tôi là đơn vị tư vấn từ năm 2011 đến nay, và đã làm được nhiều chuỗi cũng như tư vấn được cho nhiều chủ thể trong chuỗi. Chúng tôi xác định rằng trung tâm phải xác nhận là một vai trò đầu mối tư vấn cho các thương nhân để liên kết xây dựng chuỗi và đồng thời tìm ra tác nhân là đầu mối chuỗi. Doanh nghiệp đầu mối có đặc điểm là chính doanh nghiệp sử dụng nhãn hiệu sản phẩm của chuỗi đó, cần phân tích cho các doanh nghiệp thấy được lợi ích của mình khi được làm doanh nghiệp đầu mối, không những tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả hằng ngày mà còn tích tụ được thương hiệu sản phẩm và giá trị thương hiệu rất lớn.

Để tư vấn liên kết chuỗi, vai trò của trung tâm ngoài việc tư vấn trực tiếp cho các doanh nhân thì cũng nhận vai trò là đầu mối vì có rất nhiều cơ quan chuyên môn liên quan giúp cho việc hình thành chuỗi. Chúng tôi cũng nhận trách nhiệm là đầu mối gắn kết các cơ quan đơn vị giúp cho việc xây dựng chuỗi như Chi cục vệ sinh an toàn thực phẩm ở bên ngành y tế hay Cục quản lý chất lượng Bộ nông nghiệp,....

Chúng tôi cũng có những hợp tác và tìm kiếm các doanh nghiệp giống. Hiện nay chúng tôi đang hợp tác rất hiệu quả với Hội liên hiệp phụ nữ thành phố Hà Nội. Chúng ta đều biết Hội liên hiệp phụ nữ là một tổ chức chính trị xã hội có hệ thống tới tận các tổ và khu dân phố có hệ thống rất chặt chẽ. Bên cạnh đó, những người phụ nữ chính là những người sẽ xách làn đi chợ và quyết định mua những thức ăn gì cho gia đình vậy nên việc liên kết với Hội liên hiệp phụ nữ chúng tôi thấy rất hiệu quả. 

Ngoài ra, chúng tôi cũng nhận thấy cần thiết phải có một đơn vị cung cấp những dịch vụ công để phát triển chuỗi như chúng tôi đã làm và đã cho thấy hiệu quả, hiện tại chúng tôi đã có khá đầy đủ các doanh nghiệp đa dạng. Hiện nay dù có hiện tượng rớt giá nhưng giá lợn vẫn bảo đảm hiệu quả ở tất cả các khâu. Đó là các sản phẩm tiêu thụ được theo chuỗi, còn về việc liên kết giữa chăn nuôi và trồng trọt thì tôi thấy rằng kể cả phải liên kết trồng trọt với chăn nuôi và thủy sản....


10 giờ 10 phút

TS Nguyễn Minh Phong: Qua phần trình bày của ông Tường có một vấn đề đáng chú ý nổi lên, đó là Hà Nội có Trung tâm phát triển chăn nuôi mà ông Tường đang làm giám đốc, vậy theo ông Tường quan niệm tại sao không gắn thủy sản vào chăn nuôi hay có sự phân biệt gì không mà phải phân làm hai trung tâm khác biệt? Ông có thể phân tích thêm về chuỗi hình thành như vậy thì vai trò của các “nhà” là như thế nào (nhà nông, nhà doanh nghiệp, Nhà nước, nhà băng) từ kinh nghiệm của Hà Nội, đặc biệt là vai trò của các công ty hay dịch vụ công như trung tâm của ông?

Chúng tôi cho rằng thứ nhất là Hà Nội có ba đơn vị với ba mảng chuyên sâu. Nếu chúng tôi có những sự phối hợp với nhau thì có thể sẽ tốt hơn ở một góc độ nào đó. Với tư cách là giám đốc của một trung tâm phát triển chăn nuôi thì tôi sẽ có hợp tác với ba đơn vị ấy để thực hiện tốt hơn. Chúng tôi thấy rằng chúng ta phải đặt mình ra ngoài chuỗi thì chúng ta mới tư vấn được cho chuỗi, Nhà nước phải đứng ra bên ngoài để có tính khách quan. Và chúng tôi thấy rằng đây là sản phẩm do chúng tôi xây dựng nên chúng tôi phải đầu tư nghiên cứu rất sâu, chúng tôi thấy rằng việc làm chuỗi liên quan tới rất nhiều tác nhân cũng như vấn đề khách quan tác động vào môi trường phát triển.

Do vậy dứt khoát là chủ thể chuỗi này người ta còn chưa rõ chuỗi là thế nào và làm thế nào để chuỗi có hiệu quả nên dứt khoát cần có một cơ quan đầu mối để tư vấn và kết nối các đơn vị để chuỗi có thể thành công.

Chúng tôi thấy, với những cái tập trung làm như vậy thì gần như vai trò một cửa để hình thành các chuỗi. Chúng tôi là đơn vị sự nghiệp, chúng tôi xác định đây là đơn vị cung cấp dịch vụ công cho phát triển chuỗi giá trị. Khi chúng tôi giúp các chuỗi giá trị phát triển, thì chúng tôi cũng sẽ tạo nguồn thu cho nhà nước rất lớn.

Nguồn thu trực tiếp, hiện nay chúng tôi đã đăng ký được nhãn hiệu chứng nhận sản phẩm an toàn, sản xuất theo chuỗi, truy xuất nguồn gốc với Cục Sở hữu trí tuệ và được cấp bằng bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận.

Với nhãn hiệu chứng nhận, chúng tôi sẽ đưa tiêu chí, tiêu chuẩn thế nào là chuỗi. Và việc xây dựng thành  bộ hồ sơ đăng ký với Cục, Cục công nhận đây là tài liệu hồ sơ trí tuệ của Trung tâm để nhãn hiệu chứng nhận có giá trị.

Nhãn hiệu chứng nhận này giúp người tiêu dùng không tin vào sản phẩm, khi có nhãn hiệu chứng nhận để có cơ sở khoa học để người tiêu dùng tin sản phẩm an toàn chất lượng. Vì chứng nhận này từ khâu đầu vào sản xuất, theo một chuỗi đến đóng gói sản phẩm có nhãn mác, được chúng tôi trao quyền sử dụng nhãn mác in cùng nhãn hiệu hàng hóa.

Cái chứng nhận này chứng nhận cả quy trình sản xuất, quản lý ra sao, quy chế quản lý ra sao và chuỗi này hoạt động bằng liên kết như thế nào, hợp đồng trách nhiệm ra sao để truy xuất nguồn gốc. Việc đó, chúng tôi hàng năm sẽ kiểm tra và cho sử dụng nhãn hiệu hay cấp, hay thu hồi.

Nhãn hiệu chứng nhận này là dấu hiệu nhận biết dễ cho người tiêu dùng. Bởi vì, có thể có tới hàng triệu nhãn hiệu hàng hóa nhưng nhãn hiệu chứng nhận chỉ có một. Chúng tôi nghĩ bất cứ nước thể chế chính trị nào cũng cần cung cấp dịch vụ công. 


10 giờ 20 phút

TS Nguyễn Minh Phong: Thưa ông Phạm Anh Tuấn, vai trò của HTX đặc biệt là khâu tiêu thụ theo quan điểm của ông có giá trị như thế nào trong việc hình thành chuỗi cũng như là phát triển chuỗi?

 

Ông Phạm Anh Tuấn: Hiện nay chúng tôi đã liên kết trên 100 HTX là thành viên của liên hiệp. Thực ra chúng tôi là đơn vị chủ thể về chuỗi. Hiện nay chúng tôi có hệ thống nhà kho vận chuyển logistic sơ chế đóng gói. Vừa rồi chúng tôi chủ trì tổ chức hội chợ nông sản tiểu thủ công nghiệp của HTX, liên hiệp HTX gắn với Hội nghị Bộ trưởng châu Á Thái Bình Dương bốn ngày tại Công viên Thống Nhất. Hội chợ đã đón trên 500 nghìn lượt khách đến mua sắm và tổng doanh thu ước đạt 150 tỷ đồng. Qua đó các HTX tham gia hội chợ đều có những cái chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGap, Godb Gap của 54 tỉnh thành và trên 30 HTX. Qua đó tạo lên được liên kết với nhau.

Nói chủ thể tạo nên chuỗi thì ngoài doanh nghiệp cũng cần có các liên hiệp HTX gắn kết các doanh nghiệp. Trong quyết định 1980 của Thủ tướng về việc quy định tiêu chí số 13 trong xây dựng nông thôn mới, bắt buộc các doanh nghiệp phải có tiêu chí 13, phải có HTX sản xuất hàng hóa chủ lực gắn với chuỗi giá trị. Đó là cái mà tôi cho là đã có một quyết định rất sáng suốt.

Trước hết ta phải hiểu chuỗi là gì? Chuỗi là sự liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ một vòng khép kín và mệnh lệnh của chuỗi là thị trường, nếu không có thị trường thì chuỗi sẽ hỏng. Vừa rồi chúng ta có nhiều cuộc giải cứu nông sản đó là do chúng ta làm chuỗi hỏng. Tôi mong rằng cuộc tọa đàm hôm nay ngoài việc nêu lên vấn đề về quản lý hành chính, quản lý về pháp luật, lý thuyết thì vấn đề là đầu ra cũng là một việc cần phải bàn đến. Tôi đồng tình với ý kiến của các anh ở Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các vấn đề về truy xuất nguồn gốc, chủ dẫn địa lý, quản lý chất lượng sản phẩm. Hiện nay chúng tôi liên kết 130 HTX thành viên và chúng tôi còn hàng trăm HTX là đối tác liên kết của doanh nghiệp. Chúng tôi về tận ruộng hướng dẫn bà con kiểm tra đất, kiểm tra không khí để sản xuất theo đơn đặt hàng của chúng tôi thí dụ như là một cân rau bắp cải là bao nhiêu tiền, một con gà là bao nhiêu tiền. Họ sản xuất theo quy trình, chúng tôi cũng vậy. Chúng tôi có lý lịch hằng ngày để giám sát. Sắp  tới đây chúng tôi bàn bên Liên minh phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để xây dựng chuỗi cung ứng đầu vào cho nông nghiệp để quản lý chặt chẽ. An toàn hay không an toàn là phải từ cái gốc, sau đó là  quá trình bảo quản, chế biến, logistic. Chúng tôi cố gắng tạo nên một chuỗi bền vững như vậy. Hiện, chúng tôi  đã triển khai được 5 siêu thị UCA mart và liên kết trên 100 HTX và các tổ chức nước ngoài. Nhưng khó ở chỗ để sản xuất xong thì phải đầu tư một lượng rất lớn tài chính từ : giết mổ tập trung, sơ chế đóng gói... Một câu hỏi đặt ra là tại sao các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi rất ít, đếm trên đầu ngón tay, bởi làm nông nghiệp không đơn giản.

Thứ nữa về chỉ dẫn địa lý và truy xuất nguồn gốc, khó như thế này, có công ty thành lập ra để bán tem truy xuất, mà lại không quản lý được việc đó, trong khi chúng tôi phải mua phần mềm 6.000 USD thì không thể bán cho các HTX mua được. Các đơn vị liên kết với chúng tôi sẽ được mở ra một file để khi sản xuất và in file đó miễn phí để truy xuất và chúng tôi phải bày và phải hướng dẫn cho họ.

Một khó khăn tiếp mà tôi nghĩ rằng việc xây dựng chuỗi hiện nay đang gặp phải đó là quản lý hành chính. Thực tế khi chúng tôi làm đề xuất để có được chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm là rất khó. Qua quá trình thực hiện tôi nghĩ rằng các tỉnh nên hỗ trợ người dân bằng cách đưa đoàn kiểm tra về kiểm tra (đất, nguồn nước, môi trường...), khi các điều kiện đã bảo đảm rồi thì để cho người dân sản xuất và đoàn kiểm tra của địa phương sẽ là người cấp chứng nhận an toàn cho thực phẩm sạch.

Mặt khác, chính quyền cũng cần định hướng về tư duy liên kết chuỗi cho người dân. Đôi khi vì chạy theo lợi nhuận họ sẵn sàng bỏ bom cả doanh nghiệp. Trường hợp này chúng tôi đã gặp phải trong quá trình triển khai chuỗi trong thời gian vừa qua. Thí dụ như khi chúng tôi về Bắc Giang xây dựng HTX Đa Mai, lúc các sản phẩm ở địa phương làm ra bán với giá rất rẻ chỉ khoảng 1.000đồng/1 kg; 1.000 đồng/1kg cà chua. Chúng tôi đã về đó xây dựng thương hiệu, xây dựng chuỗi sau đó đưa HTX đó vào chuỗi của chúng tôi, nhưng được khoảng một tháng sản xuất đến đâu chúng tôi bao tiêu đến đó thì họ đòi tăng giá lên gấp 3 lần, thậm chí họ còn không bán cho chúng tôi mà để bán cho thương lái với giá cao hơn. Thương lái thì khi họ cần thì họ mua, đến lúc họ không cần nữa thì người dân lại không biết bán cho ai thì lại chạy đến để bán cho chúng tôi. Như vậy nếu người dân vẫn còn tư duy chạy theo lợi nhuận thì sẽ rất khó tham gia chuỗi.

Theo chúng tôi để xây dựng chuỗi bền vững thì chúng ta phải thực hiện cái “ba đồng, hai vừa”. Thứ nhất là đồng nhất về giống, đồng nhất về công nghệ, đồng nhất về sản phẩm. Như vậy chúng ta vừa có sản phẩm tốt, vừa giúp cho các đơn vị trong chuỗi yên tâm để liên kết. Còn “hai vừa” mà chúng tôi muốn nói ở đây đó là vừa sản xuất tập trung, vừa sản xuất phân tán nhưng phải sản xuất theo đúng quy chuẩn quy trình sản xuất.  Đặc biệt là mô hình HTX kiểu mới hiện nay sẽ góp phần thúc đẩy liên kết và thúc đẩy phát triển kinh tế hộ. Thực tế, chúng tôi đã xây dựng các hợp tác xã rau tự nhiên như HTX rau Đức Huy ở Hà Nam hay như các HTX trồng xoài ở Đồng Tháp...

 

TS Minh Phong: Chúng ta còn quay trở lại vấn đề này nữa. Bây giờ tôi xin được hỏi ông Vũ Văn Hải, Phó Tổng giám đông Công ty CP Giống gia súc Hà Nội. Vâng thưa ông Hải, vừa rồi ông Tống Xuân Chinh và ông Nguyễn Hồng Sơn đều đề cao vai trò của doanh nghiệp. Vậy với vai trò là doanh nghiệp quan điểm của ông như thế nào về hình thành chuỗi. Bò BBB đã có chủ trương hình thành chuỗi hay chưa và ông thấy có những thuận lợi và khó khăn gì trong việc hình thành chuỗi mà doanh nghiệp đang triển khai?

 

Ông Vũ Văn Hải: Đứng ở góc độ doanh nghiệp thì chúng tôi thấy thế này, trước hết phải thừa nhận trong ngành nông nghiệp của chúng đã hình thành một số chuỗi liên kết. Việc hình thành đó đã tạo điều kiện gắn kết giữa người sản xuất và doanh nghiệp từ đó tạo cho người sản xuất ở khâu nào đó là ổn định. Tuy nhiên quá trình hình thành phát triển chuỗi nó vẫn còn một số khó khăn. Thứ nhất đối với người sản xuất chúng ta vẫn là sản xuất nhỏ lẻ. Thứ hai là chúng ta chưa tạo ra được những sản phẩm an toàn, sản phẩm chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Bên cạnh đó còn có khó khăn nữa đó là người sản xuất họ chưa chú ý (đặc biệt là người nông dân) chưa chú ý đến sản xuất nhóm hộ mà chủ yếu sản xuất tự phát mạnh ai nấy làm và theo hiệu ứng đám đông. Chẳng hạn như khi thấy sản phẩm nào có lợi là đổ xô vào làm đến khi sản phẩm ra thì không tiêu thụ được. Thứ ba khi người nông dân đã ký hợp đồng với doanh nghiệp rồi nhưng người ta sẵn sàng bán cho thương lái nếu người thương lái mua với giá cao hơn dẫn đến liên kết bị phá vỡ. Đó là những khó khăn trong việc hình thành chuỗi.

Ngoài ra, cái khó khăn với các doanh nghiệp làm trung gian phân phối thì chúng tôi thấy thế này. Hiện nay, chưa có nhiều doanh nghiệp tha thiết vào đầu tư nông nghiệp như anh Tuấn vừa nói bởi vì đầu tư vào nông nghiệp rất khó khăn, hiệu quả thấp, rủi ro cao. Bên cạnh đó, việc liên kết giữa người sản xuất với doanh nghiệp là chưa bền vững, chưa chia sẻ lợi nhuận và rủi ro trong chuỗi. Đối với kênh bán lẻ của chúng ta hiện nay chúng ta đã hình thành một số kênh bán lẻ nhưng do chạy theo lợi nhuận vẫn có những tình trạng trà trộn những sản phẩm không nguồn gốc vào làm mất niềm tin của người tiêu dùng. Ngoài ra, hệ thống bản lẻ của chúng ta còn yếu kém, kỹ năng tư vấn cho khách hàng của các nhân viên còn rất hạn chế. Chúng tôi là doanh nghiệp nông nghiệp chúng tôi nhận thấy rằng khi làm ra cá sản phẩm của mình,thí dụ như thịt bò BBB của chúng tôi cũng vẫn còn nhiều người chưa biết. Hiện nay, chúng tôi cũng đang phối hợp với anh Tường để xây dựng chuỗi thịt bò BBB, tuy nhiên quá trình cũng gặp rất nhiều khó khăn. Về phía doanh nghiệp chúng tôi đã chủ động làm mấy việc sau: Một là chủ động nâng cao chất lượng đàn gia súc giống gốc để làm sao mình sản xuất ra những sản phẩm tốt nhất, những con giống tốt nhất để đáp ứng nhu cầu thị trường. Để thực hiện việc đó, vừa qua chúng tôi đã nhập 30 con đực vào 45 con cái của giống Gen + của Pháp. Đây là một giống mà có năng suất sinh sản rất là cao (một năm một nái có thể cái sữa khoảng 28 đến 30 con, bình thường hiện nay khoảng 22 con). Hiện nay chúng tôi đã nhập giống này và sản xuất rất là thành công. Hoặc là nói về Bò BBB hiện nay chúng tôi cũng đang hợp tác với học viện Nông nghiệp Việt Nam vừa nhập 50 con bò giống BBB thuần và 6 con Brama và nhập dây truyền sản xuất tinh hiện đại nhất hiện nay. Chúng tôi đã sản xuất thử và thành công. Thứ hai chúng tôi tiếp tục nâng cao trình độ của cán bộ nhân viên để làm sao nâng cao việc đào tạo tập huấn và chuyển giao công nghệ cho người chăn nuôi. Ngoài ra, chúng tôi hợp tác với Học viện nông nghiệp Việt Nam để xây dựng các đề tài sản xuất chế biến thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh theo công nghệ tiama để cung cấp trực tiếp cho công ty và người dân bởi trong chăn nuôi thức ăn là thứ rất quan trọng, giống tốt rồi nhưng thức ăn phải bảo đảm chất lượng thì chất lượng thịt thương phẩm mới tăng cao được.

Tiếp đó chúng tôi chủ động xây dựng một chuỗi cửa hàng để tiêu thụ sản phẩm. Hiện nay, chúng tôi cũng đã có 4-5 cửa hàng để giới thiệu sản phẩm của công ty. Chúng tôi đang đề xuất với thành phố Hà Nội xây dựng một trung tâm sản xuất sạch để tiêu thụ trong nước. Cái này thành phố đã đồng ý về chủ trương nhưng quá trình làm giấy phép cực kỳ khó khăn. Chúng tôi đang cố gắng làm sao trong quý II xong thủ tục và quý III có thể đưa vào hoạt động. 


10 giờ 40 phút

TS Nguyễn Minh Phong: Độc giả hỏi: chúng tôi đã được ăn thịt bò Kobe nhưng chưa bao giờ được thử nghiệm bò Kobe với giá cực kỳ đắt và Việt Nam chưa xuất hiện. ÔngVũ Văn Hải có thể so sánh chất lượng giữa bò 3B và bò Kobe của Nhật như thế nào. Hiện nay Nhật Bản đang có dự án nuôi 5.000 con bò Kobe ở miền Trung. Trước thông tin này, bò 3B của Hà Nội sẽ ứng xử như thế nào? Cạnh tranh hay sẽ tham gia liên kết?

 

Ông Vũ Văn Hải:

Về thịt bò 3B, chúng tôi đã lấy mẫu Viện Dinh dưỡng quốc gia thử và đưa ra kết quả tốt, có thể sánh cùng thịt bò nhập từ Mỹ, Úc về Việt Nam. Nếu nhà nước có chính sách, và doanh nghiệp nào đó đầu tư vào lĩnh vực này, thì chúng ta phải liên kết với nhau.

Hiện nay, doanh nghiệp chúng tôi đã nhập tinh bò Kobe để phối trên đàn bò của chúng tôi, để sản xuất. Hiện nay, con bò đó mang thai và sắp tới có sản phẩm. Quan trọng nhất quy trình chăm sóc nuôi dưỡng. Về giống, tôi nghĩ, giống bò 3B có thể phối thêm giống nạc để tạo thêm gân mỡ trong thịt, chất lượng sẽ ngày càng tốt hơn. 

TS Nguyễn Minh Phong: Thưa ông Nguyễn Kim Sơn, theo ông nước ta đã có những chính sách đủ cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt cho chuỗi hay chưa? Những mặt mạnh và yếu điểm cũng như những đề xuất giải pháp để tăng hiệu quả quản lý của nhà nước trong phát triển chuỗi trong nông nghiệp? 

 

TS Đặng Kim Sơn: Từ khi chúng ta chuyển sang cơ chế thị trường, yếu tố quyết định của sản xuất là yếu tố thị trường đã được mọi người thấu hiểu từ người lãnh đạo cao nhất cho đến người dân. Thế nhưng để đi đến lúc quyết định xây dựng chuỗi, lấy chuỗi làm giải pháp then chốt phát triển nông nghiệp thì chúng ta mới tập trung vào việc chỉ đạo trong ba bốn năm gần đây. Việt Nam bắt đầu chuyển sang tái cơ cấu nông nghiệp với đề án tái cơ cấu nông nghiệp đã được Thủ tướng phê duyệt. Hiện theo định hướng của Bộ NN&PTNT chúng ta chia nông nghiệp ra làm ba lớp: Đầu tiên là trên dưới một chục nông sản chiến lược của Việt Nam có lợi thế trên thế giới xuất khẩu trị giá trên 1 tỷ USD như lúa gạo, tiêu, thủy sản, đồ gỗ... Sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam không có lợi thế nhưng lại là sản phẩm quan trọng để giải quyết nhu cầu trong nước, tạo việc làm cho xã hội. Chúng ta đang tập trung xây dựng chuỗi giá trị chiến lược, bắt đầu từ các vùng chuyên canh lớn của Việt Nam, đuôi thì có cái tập trung vào trong nước nhưng chăn nuôi, có cái đuôi gắn với giá trị toàn cầu như cà phê, lúa gạo.

Lớp thứ hai là sản phẩm mang tính chủ lực của các tỉnh, các vùng, Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên...những sản phẩm như thế có thể đưa vào các thị trường ngách trên thế giới, có thể hướng vào thị trường trong nước nhưng quy mô nhỏ hơn và cuối của nó không nhất thiết phải đi qua các công ty xuyên quốc gia, mà đi vào các công ty xuất khẩu. 

Một hệ thống quan trọng nữa là sản phẩm đặc sản, đặ thù của địa phương. Không chỉ là nông sản mà còn có thể là dịch vụ. Sản phẩm này ở cấp làng xã, chỗi gắn rất hẹp, ở ngay trong tỉnh, gắn với thị trường nhỏ trong thành phố nhưng có quy mô năng động.


11 giờ

TS Nguyễn Minh Phong: Thưa ông Nguyễn Hồng Sơn,ông có bổ sung gì thêm trong lĩnh vực trồng trọt, đặc biệt là hỗ trợ chuỗi trong ngành trồng trọt?

 

 Cục trưởng Cục Trồng trọt Nguyễn Hồng Sơn: 

Về chính sách, tôi tán đồng với ý kiến của anh Đặng Kim Sơn, là Nhà nước chúng ta phải suy nghĩ nhiều về hình thành liên kết để đáp ứng yêu cầu làm mới, đặc biệt trong bối cảnh chúng ta đang tái cấu trúc lại nền kinh tế của mình.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, thị trường là yếu tố quyết định. Nhưng ở Việt Nam, cung chưa đi đôi với cầu. Sản xuất chúng ta đến đâu thừa đến đấy. Khi có tín hiệu thị trường là chúng ta sẽ thay đổi ngành sản xuất nhanh chóng.

Ví dụ, cây dài ngày như hồ tiêu, khi có tín hiệu thị trường tốt như có một nước xuất khẩu lớn trên thế giới bị ảnh hưởng biến đối khí hậu làm sản lượng giảm, thì hai năm sau chúng ta có ngay sản phẩm này. Và hiện nay, Việt Nam đứng đầu thế giới về xuất khẩu hồ tiêu. Cho nên, tôi cho rằng, người nông dân rất nhanh có sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường.

Nói thì đơn giản vậy, nhưng thị trường thế giới các nước đều đang trong tình trạng thừa nhiều. Họ phải có chính sách bảo hộ. Những nỗ lực và chính sách chúng ta đã có, nhưng vẫn khó. Vì thế điều mấu chốt quan trọng là cách xác định tiếp cận xây dựng thương hiệu và xâm nhập sâu hơn vào thị trường thế giới của các doanh nghiệp. Từ nhu cầu thực tiễn đó, Nhà nước sẽ có điều chỉnh chính sách phù hợp.

Nhưng rõ ràng, chúng ta chưa có nhiều doanh nghiệp tâm huyết quyết tâm xây dựng thương hiệu vì cốt lõi của nó vẫn là đầu tư vào nông nghiệp hiệu quả thấp, rủi ro, không ổn định. Đây là cái mà Chính phủ phải có chính sách hỗ trợ quyết liệt, giúp doanh nghiệp vượt qua rào cản đó.

Đồng thời, lĩnh vực nông nghiệp khó hơn lĩnh vực khác vì làm nông nghiệp đầu tư cao, lãi thấp mà liên kết với nông dân khó. Nên muốn các doanh nghiệp phải có hình thức hết sức sáng tạo. Ví dụ như, phải có Tập đoàn quốc tế mạnh vào liên kết. Đây là động lực giúp doanh nghiệp học hỏi kinh nghiệm của bạn, nâng cao năng lực đầu tư, đặc biệt đổi mới công nghệ. Tuy nhiên chúng ta phải lưu ý một điều, khi doanh nghiệp nước ngoài vào cũng là vấn đề làm mất cơ hội của các doanh nghiệp Việt Nam. Nói thế không phải để đóng cửa, nhưng nói chung, chúng ta phải hết sức thận trọng.

Các doanh nghiệp Việt Nam trước hết phải vùng vẫy và tự cởi trói bằng những hình thức liên kết hết sức sáng tạo với người dân. Tôi cho là điều cốt yếu cuối cùng đó là liên kết và chia sẻ quyền lợi thực sự chứ nếu chúng ta cứ nói “không” thì tôi cho rất là khó. Đã có doanh nghiệp nào thực sự chia sẻ lợi ích với dân chưa, dám kêu gọi nông dân sản xuất và hợp tác cổ đông cùng doanh nghiệp, cổ đông đó có thể bằng tiền, bằng đất hay nhân lực lao động để chúng ta chia sẻ với nhau thì tôi cho là chưa có những doanh nghiệp đi đến cùng như thế thì sẽ rất khó để xây dựng những mối liên kết thực sự để rồi cùng nhau xây dựng những chuỗi giá trị.

Chúng ta thấy phần lớn các doanh nghiệp cung cấp vật tư đầu vào và thu mua thì đây cũng là một hình thức tốt rồi. Ví dụ như trong vật tư đầu vào thì doanh nghiệp ăn lãi ở phần đó và không chia sẻ với nông dân là nếu doanh nghiệp mua được vật tư đầu vào với giá rẻ thì sẽ bán cho nông dân rẻ hơn. Hoặc chưa có doanh nghiệp nào kêu gọi rằng nếu nông dân mất mùa thì sẽ chia sẻ với nông dân hay được mùa thì nông dân chia sẻ với doanh nghiệp. Nếu như có những hợp đồng sâu và những hình thức liên kết như vậy thì chúng ta mới có thể bảo đảm được sự thắng lợi trong liên kết. Và những mối liên kết đó khó khăn đến đâu thì chính sách sẽ đi kèm để hỗ trợ được còn nếu chúng ta ngồi nghĩ ra những chính sách để thúc đẩy mà chưa phải xuất phát từ nhu cầu thực sự của thực tế thì cũng rất khó, không biết được những gì là phù hợp.  


11 giờ 30 phút

TS Nguyễn Minh Phong: Thưa ông Vũ Văn Hải, bò 3B định vị mình trong giai đoạn tới đây như thế nào và đề xuất gì với Nhà nước khi doanh nghiệp của ông đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng này?

 

Ông Vũ Văn Hải: Chúng ta đã nói nhiều và thừa nhận với nhau hình thành chuỗi đã khó và để chuỗi phát triển được càng khó. Để đứng vững chúng ta cần chia sẻ cùng nhau, nếu không chia sẻ thì không phát triển được. Chúng tôi đang xây dựng chuỗi bò 3B. Tôi đồng tình với quan điểm của anh Sơn, doanh nghiệp là đầu tàu nhưng nông dân lại là chủ lực vì hiện nay tất cả đàn bò đều trong dân. Chúng tôi đang làm các việc cần làm như: cung cấp con giống tốt, chế biến thức ăn, hỗ trợ đào tạo... nhưng như thế chưa thành chuỗi được. Chúng ta phải gắn kết người nông dân với cơ chế chính sách, chúng tôi cần Nhà nước hỗ trợ. Thứ hai là Nhà nước hỗ trợ về đất đai.

Thí dụ như đưa khu chăn nuôi ra xa khu dân cư, chính sách Nhà nước có rồi nhưng thực tế có bao nhiêu mô hình đó. Chính sách đất đai như dồn điền đổi thửa, tích tụ đất đai, chính sách tín dụng... là rất cần và quan trọng. Còn vấn đề rất quan trọng là thị trường đầu ra. Chúng ta chưa phát triển được nhiều thị trường mới, mà chủ yếu là thị trường truyền thống.

Đến giờ tôi vẫn khẳng định rằng, để chuỗi hình thành phát triển được ngoài nỗ lực của doanh nghiệp, các HTX liên minh với nhau, thì vai trò Nhà nước vẫn chủ đạo.

TS Nguyễn Minh Phong: Nhận thức về chuỗi và vai trò của chuỗi là quan trọng. Vì thế, trong thời gian tới việc định vị phát triển chuỗi cần phải tiếp tục bổ sung về mặt nhận thức, tổ chức. Bên cạnh đó, chúng ta cần có nhiều giải pháp kết hợp năm nhà. Nhà nước không chỉ là Nhà nước về mặt chính sách mà còn là trung tâm cung cấp dịch vụ công. Cần có cả liên hiệp doanh nghiệp. Do vậy, việc xác định vị trí, vị thế và vai trò trong mối liên kết năm nhà rất quan trọng.

 

Để phát triển chuỗi cần cần liên kết dọc, liên kết ngang. Cần có sự kết hợp giữa doanh nghiệp tập trung với sự phân tán trong các hộ theo địa điểm. Sự kết hợp của nguyên tắc thị trường với hội nhập. Sự kết hợp của bàn tay Nhà nước, bàn tay thị trường. Cần bổ sung thêm, bàn tay của hiệp hội, xã hội dân sự. Rồi là sự kết hợp đồng bộ với chính sách, tuyên truyền về chính sách, không chỉ về hàng hóa mà còn cả cộng đồng dân cư.

Với tất cả những cái đó, chúng tôi tin rằng sẽ còn mở ra nhiều chủ đề tiếp tục để thảo luận. Hy vọng hôm nay chúng ta đã có thêm những nhận thức, hy vọng sẽ được quay trở lại những chủ đề kỹ hơn, sâu sắc hơn.

Xin cảm ơn các quý vị.



Bài phát biểu bế mạc

Phát biểu bế mạc của Đồng chí Phan Huy Thắng - Trưởng Ban Nhân Dân điện tử

Kính thưa các quý vị,

Trước hết thay mặt bạn đọc và các cán bộ phóng viên, biên tập viên và kỹ thuật viên Ban Nhân Dân điện tử - Báo Nhân Dân chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp chân thành, thẳng thắn, chất lượng và đầy tâm huyết của quý vị khách mời tại buổi tọa đàm ngày hôm nay.

Kính thưa các vị khách mời,

Trong khuôn khổ hơn hai giờ đồng hồ, các vị khách mời của chúng ta đã giải đáp, làm rõ được hầu hết các nội dung đặt ra tại buổi tọa đàm ngày hôm nay. Các trao đổi của quý vị không những chỉ ra những mặt hạn chế hiện nay, mà còn kiến nghị những giải pháp cho Nhà nước, gợi mở những hướng đi, kinh nghiệm quý cho sự hình thành và pháp triển các chuỗi giá trị bền vững trong nông nghiệp.

Tất cả những ý kiến, nội dung của buổi tọa đàm hôm nay sẽ được chúng tôi tổng hợp để trong những bài viết tới đây, phục vụ công tác truyền thông về hình thành và pháp triển các chuỗi giá trị bền vững trong nông nghiệp trên Báo Nhân Dân điện tử và các ấn phẩm khác của Báo Nhân Dân.

Một lần nữa cho phép tôi được cảm ơn các quý vị khách mời và cảm ơn Công ty cổ phần Giống gia súc Hà Nội đã ủng hộ Báo Nhân Dân điện tử để làm nên thành công của buổi tọa đàm hôm nay. Chúng tôi cũng rất mong các quý khách mời của chúng ta tiếp tục đồng hành cùng Báo Nhân Dân điện tử trong thời gian tới.

Thay mặt tập thể cán bộ, phóng viên, kỹ thuật viên và bạn đọc, chúc các quý vị mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công! Chúc nền nông nghiệp Việt Nam sớm hình thành và phát triển thêm nhiều chuỗi giá bền vững!

Xin trân trọng cảm ơn!

Đồng chí Phan Huy Thắng - Trưởng Ban Nhân Dân điện tử phát biểu bế mạc