Phiêu lãng miền Chu Ru

UÔNG THÁI BIỂU

Thứ sáu, 01/02/2019 - 10:09 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Trong vũ điệu Tămya - Ariya. Ảnh: NGỌC NGÀ

Trên đại ngàn Tây Nguyên, những dãy núi lượn qua mỗi tộc người được gọi tên riêng theo ngữ hệ bản địa. Núi vờn nhau nhấp nhô như sóng xuôi dần về duyên hải. Cứ hình dung, đỉnh ở miền cao mà chân núi tận đồng bằng. Dõi mắt theo sơn dã mờ dần mà liên tưởng về biến động tạo nên cơ duyên lạ lẫm. Có sự gắn bó mật thiết nào đó của đại dương xa xôi với cư dân xứ rừng? Ngày cuối năm, tôi lang thang qua miền đất của người Chu Ru để tìm thêm đôi điều, hòng soi dần những bóng mờ trên hành trình di trú của một tộc người…

Đứng giữa plei (làng) Hơma Glây, tiếng Chu Ru nghĩa là “ruộng trong rừng”, ở vùng Tu Tra, Đơn Dương (Lâm Đồng), tôi ngắm mãi ngọn núi trên dãy Pơtơu Gớp. Dãy núi ấy tiếp mạch từ những bổng trầm cao nguyên. Người Chu Ru coi núi này là nơi trú ngụ của các vị thần. Ngắm núi và làn khói đồng thơm mùi rơm rạ khi mùa gặt vãn, trò chuyện với con người cần lao miền thượng đang trải cuộc mưu sinh trong buổi chiều tà, lòng thấy nao nao. Cuộc phiêu lãng giữa những buôn làng, ruộng rẫy thú vị hơn khi thả hồn theo dòng cảm thức của một tộc người. Người Chu Ru quần cư giữa triền thấp nhất của miền cao Tây Nguyên. Và họ có số phận đặc biệt. Tộc người ấy, cũng giống những dải núi nối dài về biển, hình như có cội rễ sâu xa đâu đó dưới đồng bằng.

Người già Jơlơng Ya Loan được đồng bào coi là nhà thông thái. Quả vậy, ông và bà vợ Ma Wy rất rành rẽ những thăng trầm dâu bể tộc người. Lý giải về nguồn gốc, ông Ya Loan nói: “Trong ngôn ngữ xưa, từ “chu ru” có nghĩa là “chui rúc”, “lẩn trốn”. Tổ tiên chúng tôi có lẽ là người miền biển. Vào thời nào đó thuộc đế chế Chăm Pa, họ dứt áo khỏi bản quán, cố hương…”.

Từ gợi mở của ông Ya Loan, tôi giả thiết, có biến động trong lịch sử nên người Chu Ru rời bỏ vương quốc, tìm đến nương náu trên miền núi cao này. Có lẽ bởi thế mà người Chu Ru giờ nói được tiếng Chăm, giỏi dẫn thủy nhập điền làm ruộng nước, giỏi đánh cá, biết tìm đất sét tốt nặn và nung gốm, biết đúc nhẫn bạc, biết mang sản vật đi buôn bán khắp nơi. Những nghề đó, không phải là thế mạnh của nhiều tộc người bản địa Tây Nguyên.

Có điều thú vị, ông Ya Loan và Ya Ga đều kể về những cuộc “nau drà” (đi chơi chợ) của người Chu Ru. Những chuyến đi dài hằng tháng trời, lội suối băng rừng, vừa đi, vừa chơi, vừa tìm cái ăn, vừa tìm cái bán. Hướng họ tìm là Phan Rang, Phan Thiết bên bờ đại dương. Phải chăng, từ những chuyến về đồng bằng như thế, người Chu Ru thỏa nỗi nhớ biển trong tâm thức, nỗi nhớ cội nguồn mà ngày xưa tổ tiên họ rời bỏ để làm cánh chim thiên di mang theo số phận tộc người?…

So người Mạ, Cơ Ho, Mơ Nông, Ê Đê… tụ cư lâu đời, người Chu Ru là thành viên mới của Tây Nguyên. Chắc vì nguyên cớ đó mà các tộc khác gọi Chu Ru là “người xâm đất”, ý nói là dân đến từ nơi khác. Thời điểm gọi là “mới” ấy, theo giả thiết, cũng cách đây cỡ bốn, năm thế kỷ.

Tiếp lời ông Ya Loan, già Ya Ga nói: “Các cụ xưa kể rằng, tổ tiên chúng tôi thuộc nhóm người Chăm, sống ở vùng duyên hải Trung Bộ…”. Lật tư liệu nhân chủng học thì thấy, người Chu Ru và người Chăm đều thuộc chủng tộc Austronesia, cùng chung ngôn ngữ Malayu-Polynesia thuộc ngữ hệ Nam Đảo. Trang phục, nhạc cụ, ca dao, tục ngữ, truyện cổ, trường ca, những bài dân ca, điệu dân vũ Chăm và Chu Ru thể hiện rõ quan hệ gần gũi, thân thiết giữa hai tộc người, một ở miệt biển và một sống trên rừng núi. Truyền thuyết xứ này cũng kể, một thời binh lửa can qua, các vị vua Chăm và gia tộc từng bị truy đuổi. Trên bước đường lưu lạc, họ chọn miền đất của người Chu Ru để gửi thân nương náu. Phải chăng, bởi tình thân cội rễ nên có sự tin trao? Chuyện đã xa, chỉ biết rằng, huyền thoại về kho báu vua Chăm ở miền Đơn Dương, Đức Trọng vẫn còn truyền tụng. Những hoàng bào, ấn tín, kiếm lệnh tương truyền là của vua Chăm từng được người dân Chu Ru lưu giữ trong các ngôi đền rải rác giữa rừng Tà Hine, Tà Năng, Pró, Tu Tra. Kho tiền cổ ở vùng Păng Tiêng, Lạc Dương cũng đã được khai quật…

Bà Ma Wy xúc động cất lời hát bằng tiếng Chu Ru, một điệu hát kể nhắc chuyện xa xưa chan chứa nỗi lòng. Tôi lặng người cảm nhận, nghe giai điệu thật quen, hồ như có nét tương đồng bài dân ca Chăm mà nhạc sĩ Amư Nhân từng hát trong lần tôi ghé qua Ninh Thuận. Đó là sự mẫn cảm thoáng qua. Còn giờ đây, ngước nhìn lên ngọn Pơtơu Gớp, tôi liên tưởng về một thuở xa xưa.

Thuở ấy, giã biệt cố hương, những đoàn người dắt díu nhau vượt suối sâu, thác dựng tìm đất nương thân. Đến hạ nguồn dòng sông Đa Nhim, một bình nguyên giữa miền núi cao, họ như gặp lại hình ảnh quê nhà nơi xứ rừng lạ lẫm. Đoàn người hạ trại. Cuộc dừng chân lịch sử trải mấy trăm năm. Họ tự tách mình ra khỏi đồng bằng và biển cả, đặt tên cho tộc người bị vương quốc ruồng bỏ và an cư đến tận bây giờ. Họ bầu Pô plei (trưởng làng), chọn Gru (thầy cúng), Pô ea (người phụ trách nguồn nước) và Mọ boại (bà mụ)… Đó là “hội đồng tự quản” đầu tiên của plei trong thiết chế xã hội cổ truyền. Hậu duệ của đoàn di dân từ cơn biến loạn nay đã có hơn hai trăm nghìn người, hơn chín phần mười vẫn sống bên sông suối Đạ Nhim, Đạ Yòng vùng Đơn Dương, Đức Trọng như một sự tri ân đất lành mà tổ tiên đã chọn…

Chiều dần buông trên cánh đồng chỉ còn trơ gốc rạ. Nắng hanh hao đã nhạt, sương chiều nhuộm tím núi rừng. Hoàng hôn sơn cước đẹp như nét vẽ thủy mặc, nhuốm tịch liêu. Những plei của người Chu Ru mà tôi từng qua đều hao hao dáng nét, giản dị và ấm áp. Những ngôi nhà bên những triền đồi, dưới tán cổ thụ tỏa bóng, mặt trông về cánh đồng kéo tận chân núi. Làng buôn yên bình và an hòa như tính cách của chủ nhân xứ ấy. Hỏi chuyện về căn tính tộc người, tôi gặp nhiều nụ cười. Người Chu Ru vốn thế. Họ lịch lãm, bặt thiệp, kiệm lời. Họ giấu tinh hoa dưới vẻ khiêm nhường. Phải chăng, tâm thức di dân từ thuở nghìn xưa đã ngấm trong dòng máu hậu duệ, “người đến sau” luôn biết cách nhẫn nhịn, hòa khí, tìm kiếm sự an lành?

Ông Naria Ya Duck, một người con của tộc Chu Ru (từng là đệ nhất Phó Thủ tướng Fulro, sau quay về với cách mạng trở thành Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại biểu Quốc hội nhiều khóa) từng nói với tôi rằng: “Một người Chu Ru giỏi giang thường ít bộc lộ ra ngoài. Cái tốt, cái hay của họ thể hiện đúng nơi, đúng lúc”. Tôi cảm nhận điều ấy từ hình ảnh nghệ nhân Ya Tuất tỉ mẩn đúc chiếc nhẫn bạc đẹp đến mê hồn; từ bà Narakia miết bàn tay tài hoa lên bình gốm; bà Ma Bio sửa từng động tác múa cho các cháu nhỏ. Họ làm nhiều hơn nói. Người Chu Ru chuyên cần, từ xưa đã chăm lo sự học. Nhiều gia đình, dòng họ trong cộng đồng thành đạt. Ông Tou Prong Hiu quê ở plei La Bouye là một trong hai bác sĩ đầu tiên của cả vùng Tây Nguyên (cùng ông Y Ngông Niê K’Đăm, người Ê Đê); Naria Ya Duck quê ở Ka Đô xuất thân là kỹ sư canh nông; ông Touneh Hang Đăng, ông Ya Hấu ở Tu Tra từng là huyện trưởng, có công giúp chiến sĩ cách mạng và dân chúng nhiều vùng đến nơi này trong thời ly loạn. Mới đây, ca sĩ Ya Suy là “thần tượng âm nhạc Việt Nam 2012” và cô bé Nai Hiên trở thành thủ khoa Trường đại học Đà Lạt…

Nghệ nhân Ma Bio gõ nhịp chiêng Ba.

Tạm biệt plei Chu Ru, tôi nhận lời Ya Loan ít bữa quay trở lại cùng vui Tết đầu lúa. Tôi mong nhanh đến ngày đó, để về với buôn làng, hòa trong không khí thiêng liêng của lễ cúng tổ tiên Pơkhimocay, đắm mình trong thanh âm của trống sơgơl, sáo tenia, kèn kwào, chung vũ điệu tămya - ariya với người anh em Chu Ru. Mùa nông nhàn, lại ước có dịp cùng già trẻ, gái trai lên rừng sống đời hoang dã; bắt cá, đào củ, hái rau, săn thú và tận hưởng tự do giữa sơn nguyên mênh mang. Mùa này, người con gái Chu Ru vào tuổi tròn trăng cũng tìm kiếm chàng trai ưng bụng để chờ đêm tối đi bắt làm chồng. Rượu cần lại mở, âm nhạc miên man, vòng vũ điệu cộng đồng lại rạo rực đắm say âm hưởng đại ngàn bên bếp lửa rừng. Cứ thế, dòng mẫu hệ trên miền đất bazan vẫn tiếp nối, quay tròn nhịp điệu phồn sinh theo ngày tháng…

Trẻ em Chu Ru làm quen với văn hóa tộc người.