Phơi Tết lưng trời

Thứ Tư, 11/01/2017, 16:45:14
 Font Size:     |        Print
 

Ảnh: MINK
 Font Size:     |  

Nắng tháng Chạp là niềm mong mỏi của mọi người nghèo ở quê xưa. Nắng để dọn, sửa cửa nhà, giặt giũ chăn màn tinh tươm chuẩn bị đón năm mới. Nắng để nhà nghèo đem bộ áo quần đẹp đẽ duy nhất của mỗi người dành cất kỹ trong tủ ra phơi, chỉ để diện ba ngày Tết trong năm. Nắng ấm để những ngày áp Tết còn tắm thơm thân thể bằng nước lá mùi.

Làng tôi nghèo và ngoài làm ruộng thì không có nghề gì đặc trưng. Làng nghèo phấp phỏng chờ nắng lên cho những “thủ tục” bé mọn cần thiết nhất của một cái Tết giản dị.

Mẹ có một chiếc áo cánh mầu tím hoa cà. Mỗi năm, mẹ chỉ mặc nó một đôi lần quan trọng như đi ăn cưới và Tết. Mẹ chờ ngày nắng, mang áo cánh, quần lụa, khăn len ra phơi. Mỗi lần như thế mẹ lại nói đùa: “Nhà mình phơi Tết lưng trời”. “Thủ tục phơi Tết” còn gồm cả áo len cao cổ, áo sơ-mi mầu tàn thuốc lá, quần ka-ki mầu ghi đá của cha. Cha vẫn kể, đó là bộ quần áo được mua theo tiêu chuẩn phân phối, từ ngày cha còn làm ở quỹ tín dụng nhân dân của xã. Còn áo tím hoa cà của mẹ, là đặt may ở hiệu may Khánh Lễ nổi tiếng trong thành phố, khi bố còn ở đó học nghề may. Chiếc áo vải xoa nên rất bền. Mẹ giữ nó cả chục năm. Riêng tôi thường được mẹ mua cho bộ quần áo mới, đôi dép mới để diện Tết.

Tết thường còn lạnh, mẹ khoác chiếc áo len xanh ra ngoài, quàng thêm cái khăn. Mồng một Tết năm nào mẹ cũng đưa tôi đi cúng Tết nhà ngoại trong mầu áo ấy. Bây giờ chiếc áo vẫn còn, mẹ đã đẫy lên không mặc được nữa. Còn cha, chiếc áo sơ-mi và cái quần ka-ki đó, cả đời cha chỉ mặc nó vào những việc trang trọng, một ngày đã theo cha về với tổ tiên. Nghèo cả một đời, nhưng khi cần vẫn phải tươm tất, đàng hoàng, cha từng nói với tôi như vậy. Tôi hiểu vì sao cha mẹ tôi giữ gìn những tấm áo đẹp đẽ đến thế…

Có một vài thứ mà cha mẹ không bao giờ quên phơi trong dịp giáp Tết, đó là đậu xanh để làm nhân bánh chưng, lạt giang để gói bánh và mộc nhĩ để làm giò xào. Đậu xanh mẹ để dành từ mùa hạ, chọn một ngày nắng, đem rải lên chiếc dần, neo lên dây phơi cho hạt đậu giòn hơn, rồi rải đều lên cái thớt gỗ, mẹ dùng chiếc chai thuỷ tinh, lăn qua lăn lại cho hạt đậu vỡ ra làm đôi. Lạt giang trắng nõn, bố chuốt mỏng từ ống giang tươi, rải xòe hoa trên mái nhà, phơi trong cái nắng cuối đông hanh vàng cho se se lại, đến khi dùng lại ngâm vào nước vài giờ cho mềm dẻo ra. Những chiếc lạt sẽ giúp cha buộc chắc từng tấm bánh chưng xanh.

Tết nghèo xưa, nhà tôi thiếu hoa đào. Thường có hồng nhung cha trồng, để nguyên ngoài vườn, không hái. Hoa thược dược cắm lọ với mấy cành violet tím. Nhưng năm nào cha cũng giúp tôi tự làm lấy một cành đào. Mua giấy mầu về, cha dạy tôi cắt từng bông hoa, cứ bông to lồng ôm lấy bông nhỏ, dùng hồ nếp dính lại, lấy đầu kim đan chuốt cho cong cong cánh mềm là được những bông đào thắm. Cha chọn một cành cây xù xì giống cành đào, có thế đẹp, để gắn hoa vào. Rồi cũng chờ một ngày nắng ráo, cành đào được treo trên dây, nhờ nắng phơi cho hồ nếp thật khô để tránh bị mốc khi nồm ẩm. Thế là Tết cũng có hoa đào. Cha bắt chước mẹ cũng thường bảo: “Cha con mình cùng phơi Tết lưng trời…”. Cái mầu hoa thắm khiến lòng rạo rực, ngay từ lúc đặt kéo cắt những cánh hoa đầu tiên, đến khi mang đào phơi trong nắng hửng. Gió đến, hoa rung cánh lao xao vẫy gọi Tết về...

Trang Thanh