Thực hiện Nghị quyết T.Ư 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Chống tham nhũng từ lạm quyền và chi phí không chính thức

Thứ Ba, 10/10/2017, 03:52:34
 Font Size:     |        Print

Quá trình thực hiện Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XI, XII) về xây dựng Đảng đã góp phần đấu tranh với những suy nghĩ và hành vi sai trái nhằm cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực. Nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp đã được phát hiện và tập trung chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, được nhân dân đồng tình, ủng hộ.

Tuy nhiên, một thực tế đang tồn tại được Nghị quyết T.Ư 4 khóa XII chỉ rõ “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước…” .

Những nghịch lý

Với thực tế nêu trên "Nguyên nhân sâu xa, chủ yếu của tình trạng suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Ðảng, trước dân...". Mặt khác, có nguyên nhân do "Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, luật pháp thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời".

Theo báo cáo hằng năm Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)-2016 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố đầu năm nay, tình trạng nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục cho doanh nghiệp (DN) giảm từ 65% năm 2013-2014 xuống còn 58% năm 2016. Các thủ tục hành chính (TTHC) về thuế đã được cải thiện đáng kể, dù còn không ít phàn nàn về thủ tục đăng ký thuế, thay đổi thông tin thuế và hoàn thuế, thanh tra, kiểm tra thuế. Nhờ vậy, 65% số DN hoạt động có lãi, mức cao nhất trong 5 năm trở lại đây.

Tuy nhiên, báo cáo PCI-2016 cũng cho thấy có hai nghịch lý đáng lo ngại: Thứ nhất, là ngược so với tổng thể môi trường đầu tư được cải thiện là tình trạng chậm, thậm chí nặng nề hơn về các chi phí không chính thức ở khu vực DN trong nước. Theo đó, trung bình có khoảng 66% số DN cho biết thường xuyên chi trả các khoản không chính thức và chúng chiếm tới hơn 10% tổng doanh thu.

Thứ hai, là hiện tượng DN tự nguyện "tra dầu bôi trơn" lớn hơn hẳn so DN bị đòi hỏi phải chi bôi trơn. Theo VCCI, trong số 45% số DN đã đưa quà và các chi phí không chính thức trong đợt thanh tra, kiểm tra trong năm 2016, chỉ 8% số DN là bị cán bộ thanh tra, kiểm tra đòi hỏi. Tỷ lệ này nhỏ hơn 5 lần so với tỷ lệ DN chủ động đưa biếu (44%). Ðáng chú ý, 59% số DN tin rằng, hành vi chủ động đưa quà cáp dù không bị đòi hỏi này là phổ biến, trở thành "luật bất thành văn". Hơn nữa, gần 80% số DN trả lời việc đưa quà là nhằm tạo lập mối quan hệ, như một "hợp đồng bảo hiểm" cho những rắc rối và được tạo thuận lợi giải quyết các vụ việc nảy sinh trong tương lai. Ðiều này có thể thấy rõ qua báo cáo khi mà có tới 88% số DN ít nhiều đều gặp bất lợi khi tham gia đấu thầu các hợp đồng với cơ quan nhà nước do không "bôi trơn"…

Kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương - Bộ Kế hoạch và Ðầu tư đối với 2.600 DN vừa và nhỏ, ngoài quốc doanh hoạt động trong lĩnh vực chế biến, sản xuất tại 10 địa phương năm 2016 cho thấy, có hơn 40% số DN vừa và nhỏ phải chấp nhận những khoản chi không chính thức cho các cơ quan quản lý nhà nước. Theo Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ, nguyên nhân chính của việc các DN chấp nhận những khoản chi phí không chính thức là do tâm lý muốn nhanh được việc và do thái độ làm việc của một số cán bộ công chức cố tình gây nhũng nhiễu, làm khó DN. Sự phổ biến của chi phí bôi trơn đã "mặc định" tới mức, nếu chưa đưa thì bên cảm thấy thiếu và bên thấy không an tâm?!

Xu hướng coi việc đưa (bị động bắt buộc hoặc chủ động) và liên tục gia tăng mức "chi phí không chính thức" để "bôi trơn thủ tục" được "mặc định" như một phần tất yếu, không chỉ làm cản trở cạnh tranh lành mạnh, tăng chi phí sản xuất và giảm bớt lợi nhuận của DN, mà còn tạo kẽ hở cho thất thu ngân sách nhà nước vì áp thuế sai hoặc bỏ qua những sai phạm của DN, gây hại cho Nhà nước, thị trường và xã hội. Hơn nữa, chúng còn tiếp tay cho các hành vi tiêu cực và vi phạm pháp luật khác, cản trở việc lựa chọn được nhà cung cấp dịch vụ tốt nhất, dẫn đến chi phí cao hơn và chất lượng kém hơn trong sản xuất, kinh doanh, đầu tư công và đầu tư xã hội.

Hiện, Việt Nam có hơn 4.000 điều kiện kinh doanh, trong đó nhiều quy định không theo thông lệ quốc tế, không thể giải thích được và không phù hợp đối với sự phát triển của kinh tế tư nhân; do đó, có thể bãi bỏ càng sớm càng tốt hơn 50% các điều kiện không hợp lý này. Ðáng chú ý, tiếp nối đợt cắt giảm 27,8% tổng số TTHC hiện có của Bộ Công thương, từ tháng 10-2016, mới đây Bộ Công thương đã có Quyết định số 3610a/QÐ-BCT ban hành phương án cắt giảm, đơn giản hóa 675 điều kiện đầu tư, kinh doanh giai đoạn 2017 - 2018, tức tới 55,5% tổng các điều kiện đầu tư kinh doanh của 27 nhóm ngành hàng và sau khi cắt giảm, số điều kiện còn lại chỉ còn 541, thay vì con số dự kiến ban đầu là 752 điều kiện.

Trên thực tế, đằng sau các thủ tục và nhiều điều kiện kinh doanh là những nhóm lợi ích chi phối (điều kiện về quy mô sẽ tạo độc quyền cho một số doanh nghiệp lớn; điều kiện về kiểm tra chuyên ngành sẽ mở cơ hội cho những người có thẩm quyền liên quan có thể vòi vĩnh). Cắt bỏ những thủ tục này cũng có nghĩa là cắt bỏ số tiền lót tay mà các DN phải chi ra. Cắt giảm các điều kiện kinh doanh, chúng ta có quyền hy vọng môi trường đầu tư trong nước sẽ ngày càng minh bạch, thông thoáng, bình đẳng để người dân, DN tự tin đầu tư, nâng cao sức cạnh tranh, đóng góp cho sự tăng trưởng và phát triển của đất nước.

Ngăn chặn lạm quyền, loại bỏ mặc định "bôi trơn"

Thực tiễn cho thấy, quyền lực nếu không được kiểm soát chặt chẽ tất yếu sẽ dẫn đến tha hóa quyền lực và là nguyên nhân gốc rễ của tham nhũng. Nghị quyết T.Ư 4 khóa XII đã chỉ rõ nhiệm vụ, giải pháp về cơ chế, chính sách: "Các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo rà soát, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền, theo hướng quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm tập thể, cá nhân trong từng công đoạn giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm những hành vi vi phạm…".

Theo tinh thần Nghị quyết 10-NQ/TW, Hội nghị T.Ư 5 khóa XII, khu vực kinh tế tư nhân được đặt ngang hàng với các khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế tập thể để trở thành nòng cốt phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập sâu, đầy đủ với quốc tế; trở thành động lực quan trọng, là "đầu kéo chính" cho quá trình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, giải phóng sức sản xuất, huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển. Ðảng và Nhà nước đã, đang và sẽ tiếp tục đổi mới tư duy, đột phá toàn diện thể chế và tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp cần thiết, tạo môi trường thuận lợi cao nhất, theo cơ chế thị trường, với sự hỗ trợ và quản lý nhà nước thích hợp, để phát triển cộng đồng DN đa dạng, lành mạnh và đúng định hướng, với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng và tỷ trọng đóng góp trong GDP ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm.

Theo tinh thần đó, các hoạt động quản lý nhà nước đối với các DN cần tuân thủ các nguyên tắc, cam kết hội nhập và thông lệ quốc tế; giảm nhẹ gánh nặng chi phí về thể chế, tài chính và chi phí vốn, bảo đảm sự bình đẳng về pháp luật và điều kiện tiếp cận, sử dụng các yếu tố đầu vào, đầu ra của DN trong sự cạnh tranh lành mạnh theo pháp luật và nguyên tắc thị trường; xây dựng, triển khai các công cụ quản lý và hỗ trợ mới, chuyển từ mục đích "quản chặt" sang "hỗ trợ" DN bằng định hướng chính sách, thông tin thị trường và những khuyến khích tài chính, tinh thần theo ngành, sản phẩm, địa bàn..., chứ không theo từng DN, dự án cụ thể hoặc tính chất sở hữu.

Hơn nữa, cần tăng cường cụ thể hóa, minh bạch và quy chuẩn hóa, chuyên nghiệp hóa và đề cao trách nhiệm cá nhân, người đứng đầu đơn vị quản lý nhà nước đối với DN; thường xuyên phát hiện, xử lý, loại bỏ kịp thời những cán bộ đòi và nhận "bôi trơn - tham nhũng", suy thoái đạo đức, vô trách nhiệm, mất uy tín và trở thành lực cản phát triển của DN và đất nước, kiên quyết chống những biểu hiện tham nhũng trong công tác cán bộ; tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm soát, thực hiện công khai, minh bạch, ngăn chặn, hạn chế mặt tiêu cực, nhất là phòng, chống mọi biểu hiện của "chủ nghĩa tư bản thân hữu", quan hệ "lợi ích nhóm", thao túng chính sách, cạnh tranh không lành mạnh để trục lợi bất chính.

Ngoài ra, cần coi trọng kịp thời phát hiện và khen thưởng, tôn vinh các đơn vị và cá nhân có thành tích tiêu biểu trong quản lý và phát triển DN; khuyến khích tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, nâng cao sức cạnh tranh các sản phẩm, bảo đảm phát triển bao trùm và bền vững...

TS NGUYỄN MINH PHONG