Ở “phòng tuyến” cuối cùng chống bỏng

Thứ Ba, 18/04/2017, 01:49:20
 Font Size:     |        Print
 

Các bác sĩ Khoa Phẫu thuật tạo hình, Viện Bỏng quốc gia Lê Hữu Trác (Học viện Quân y, Bộ Quốc phòng) mổ tạo hình sẹo cho bệnh nhân bỏng.
 Font Size:     |  

Đối mặt với các vấn đề phức tạp về chuyên môn cũng như khía cạnh xã hội trong điều trị bỏng và di chứng, Đảng ủy, Ban Giám đốc Viện Bỏng quốc gia Lê Hữu Trác (Học viện Quân y, Bộ Quốc phòng) đã chỉ đạo các khoa chuyên môn áp dụng có hiệu quả các kỹ thuật mới, hiện đại vào cấp cứu, điều trị bệnh nhân bỏng; vận động các nhà từ thiện giúp đỡ bệnh nhân nghèo, đi đôi kịp thời hỗ trợ các tuyến trong và ngoài quân đội về chuyên môn, góp phần giúp bệnh nhân bỏng vơi đi nỗi đau, sớm bình phục.

Bệnh nhân bỏng tăng

Cuối tháng ba, dù mới sáng ra, trời rét kèm theo mưa phùn nặng hạt, nhưng từ phòng khám đến các khoa chuyên môn Viện Bỏng quốc gia Lê Hữu Trác (Viện Bỏng) đã có rất đông người nhà đưa người thân về đây cấp cứu, điều trị bỏng và di chứng bỏng.

Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Gia Tiến, Giám đốc Viện Bỏng cho biết: Là bệnh viện tuyến cuối về điều trị bỏng và di chứng bỏng trong cả nước, thực tiễn cho thấy, đơn vị phải vượt qua không ít khó khăn, khi các vụ cháy, nổ xảy ra trong cả nước diễn biến phức tạp, số lượng bệnh nhân bỏng cấp cứu, điều trị tăng lên; cơ cấu bệnh nhân bỏng thay đổi. Đáng ngại là xuất hiện bỏng hàng loạt (từ ba đến 10 người), bỏng thảm họa (từ 10 người trở lên), do cháy xưởng sản xuất, cháy quán bar, nổ bình ga… gây ra. Hai năm qua, trung bình mỗi năm cả nước có 25 đến 26 vụ bỏng hàng loạt do cháy, nổ và các bệnh nhân đến điều trị tại Viện Bỏng. Dù Viện được Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế đầu tư mua sắm trang, thiết bị y tế phục vụ cứu chữa bệnh nhân bỏng, nhưng trang thiết bị để phục vụ cứu chữa bỏng hàng loạt như: máy gây mê, máy thở, máy truyền dịch, máy bơm tiêm điện và các vật tư y tế khác chưa đáp ứng được yêu cầu.

Đáng chú ý, bệnh nhân bỏng do điện cao thế gây ra ngày càng nhiều, để lại di chứng nặng nề, tỷ lệ tử vong cao, chi phí chữa trị tốn kém. Phần lớn tai nạn đều do ý thức phòng, tránh kém; sơ cứu vết thương chưa đúng cách, nên khi đưa đến bệnh viện, bệnh bỏng thường chuyển nặng hơn do nhiễm trùng, gây sốc, rối loạn thần kinh, tim, phổi, tiêu hóa..., làm cho việc cấp cứu, điều trị càng phức tạp. Nhiều người khi bị bỏng không đến cơ sở y tế điều trị, mà tìm đến thầy lang “bốc thuốc”. Nhưng vì thầy lang không có kỹ thuật chuyên môn về bỏng, khi chữa trị làm vết thương nhiễm trùng, chuyển độ sâu...; khi đưa đến Viện Bỏng cấp cứu, người bệnh có nhiều biến chứng, buộc bác sĩ phải phẫu thuật cắt bỏ bộ phận của cơ thể. Hơn nữa, bệnh nhân bỏng đến Viện cứu chữa chủ yếu đều là những người nghèo, người lao động, trong đó nhiều bệnh nhân không có thẻ bảo hiểm y tế, gia đình hoàn cảnh khó khăn, nên khó đáp ứng chi phí đơn thuốc điều trị bệnh.

Áp dụng kỹ thuật mới, hiện đại

Nói về sự phát triển của Viện Bỏng trong cấp cứu, điều trị bệnh nhân những năm qua, Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Gia Tiến cho biết: Viện đã tích cực ứng dụng kỹ thuật mới, kỹ thuật cao vào điều trị bỏng, đạt trình độ của khu vực và thế giới. Trong đó, áp dụng có hiệu quả các kỹ thuật mới, hiện đại như: kỹ thuật nội soi chẩn đoán và điều trị bỏng hô hấp; kỹ thuật cắt bỏ hoại tử bỏng sớm trong 72 giờ đầu sau bỏng; ghép da mắt lưới, ghép da mảnh siêu nhỏ che phủ vết thương bỏng sâu; sử dụng các vật liệu thay thế da tạm thời để che phủ vết thương (trung bì da lợn, da đồng loại do Viện sản xuất); sử dụng sản phẩm công nghệ nuôi cấy tế bào; kỹ thuật siêu lọc máu liên tục điều trị bệnh nhân nhiễm trùng, nhiễm độc bỏng cấp, suy đa tạng ở bệnh nhân bỏng nặng. Đặc biệt là kỹ thuật thở máy dài ngày, kỹ thuật thông khí mở phổi điều trị hội chứng ARDS, kỹ thuật sử dụng máy thở HFO trong điều trị bỏng hô hấp và bỏng nặng có biến chứng suy hô hấp...

“Chồng tôi là Trung tá Nguyễn Công Tuấn, 49 tuổi, cán bộ thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự TP Đà Nẵng. Đầu tháng 2 vừa qua, trong khi làm nhiệm vụ không may bị bỏng điện rất nặng (69%), toàn thân tím tái tưởng chừng không qua khỏi. Chuyển đến Viện Bỏng điều trị bằng kỹ thuật mới, hiện đại, nên đã qua cơn nguy kịch. Ra Hà Nội chăm sóc chồng, tuy xa nhà, hai con trai còn nhỏ dại phải nhờ bà ngoại chăm nuôi, hoàn cảnh khó khăn, nhưng chứng kiến các y, bác sĩ chăm sóc tận tình, chu đáo, bệnh tình của chồng tôi chuyển biến tốt, gia đình rất yên tâm...”, chị Đặng Thị Hồng Thủy, 41 tuổi, quê ở TP Đà Nẵng, xúc động tâm sự.

Những bệnh nhân bị bỏng sâu khi điều trị khỏi vết thương đều để lại sẹo và di chứng sau bỏng như: ngón tay bị co quắp, mặt biến dạng, cổ dính vào ngực do sẹo bỏng... làm ảnh hưởng đến chức năng vận động, thẩm mỹ. Để giải “bài toán” nêu trên, Viện Bỏng chủ động hợp tác khoa học - công nghệ với các tổ chức, cá nhân, chuyên gia trong nước và nước ngoài như Nhật Bản, Mỹ, Đức, Thụy Điển... để phát triển chuyên ngành bỏng; đồng thời, phát triển các kỹ thuật về phẫu thuật tạo hình, ứng dụng kỹ thuật vi phẫu để từng bước hoàn thiện chức năng và thẩm mỹ các vùng sẹo bỏng.

Kỹ thuật điều trị phục hồi chức năng được triển khai sớm ngay khi bệnh nhân đang điều trị; sử dụng nẹp Orfit hạn chế sẹo co kéo vùng khớp đem lại kết quả tốt. Các kỹ thuật chuyển vạt da nhánh xuyên, kỹ thuật sử dụng vạt da siêu mỏng, vạt da có kích thước lớn bằng kỹ thuật vi phẫu điều trị sẹo và biến dạng phức tạp vùng mặt, cổ; kỹ thuật tái tạo sẹo co kéo vùng cằm, cổ bằng vạt da cân thượng đòn có nối mạch vi phẫu đầu xa được duy trì thường xuyên, có hiệu quả cao đối với những bệnh nhân di chứng sau bỏng…, góp phần giúp bệnh nhân từng bước hòa nhập cộng đồng. Ứng dụng kỹ thuật vi phẫu điều trị di chứng bỏng của Viện Bỏng quốc gia Lê Hữu Trác được Bộ Y tế đánh giá là một trong 10 thành tựu của ngành y tế Việt Nam (năm 2011); được các chuyên gia nước ngoài đánh giá cao. Bên cạnh đó, Viện thường xuyên kết hợp sử dụng thuốc y học cổ truyền để điều trị vết thương, nhất là các loại thuốc: B76 (dạng bột); thuốc mỡ Maduxin và dung dịch Berberin để chữa vết thương bỏng nông…, do Học viện Quân y sản xuất, chất lượng điều trị tương đương thuốc ngoại nhập, góp phần làm giảm chi phí điều trị.

Thực tế, nhiều bệnh nhân là người cao tuổi, có bệnh lý mãn tính kèm theo, hôn mê, vết thương bỏng loét lâu liền và loét rộng phức tạp đã từng điều trị dài ngày ở các bệnh viện khác không khỏi, nhưng khi chuyển đến Viện Bỏng, được các y, bác sĩ triển khai kỹ thuật hút áp lực âm, kỹ thuật ô-xy cao áp điều trị hỗ trợ; từng bước áp dụng kỹ thuật thủy trị liệu, ứng dụng sản phẩm từ công nghệ nuôi cấy tế bào để điều trị vết thương và ứng dụng liệu pháp mới là sử dụng huyết tương giàu tiểu cầu điều trị vết thương mãn tính mang lại hiệu quả cao.

Để kịp thời hỗ trợ tuyến y tế ở các đơn vị, địa phương trong cả nước khi có tình huống bị bỏng hàng loạt, Viện Bỏng đã thành lập Đội cấp cứu cơ động (gồm: 12 cán bộ, y, bác sĩ và nhân viên; hai xe ô-tô cứu thương cùng các trang, thiết bị y tế và cơ số thuốc đi cùng), duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng 24/24 giờ trong ngày. Trong các vụ: cháy xe ô-tô khách ở xã Đại Bái, huyện Gia Bình (Bắc Ninh) năm 2003, làm 93 người bị bỏng; nổ bình ga tại thị trấn Hưng Nguyên, huyện Hưng Nguyên (Nghệ An) vào mồng hai Tết năm 2007, làm 36 người bị bỏng; cháy xưởng sản xuất giày da ở xã Tân Dân, huyện An Lão (TP Hải Phòng) năm 2011, làm 23 người bị bỏng; cháy, nổ khí mê-tan trong lò khai thác than ở Quảng Ninh năm 2015, làm sáu công nhân bị bỏng nặng..., khi nhận được đề nghị giúp đỡ từ cơ sở, Đội cấp cứu cơ động của Viện kịp thời có mặt tại hiện trường để phối hợp sơ cứu, cấp cứu người bị nạn, chuyển bệnh nhân nặng về Viện điều trị kịp thời.

Hết lòng vì người bệnh

Có mặt tại Khoa Hồi sức cấp cứu, dù gần trưa, nhưng các y, bác sĩ và nhân viên ở đây vẫn miệt mài công việc thay băng, truyền dịch, kiểm soát nhiễm khuẩn. Đại tá, TS Nguyễn Hải An, Chủ nhiệm Khoa chia sẻ: Mỗi năm Khoa Hồi sức cấp cứu thu dung, điều trị từ 450 đến 500 bệnh nhân. Nhưng gần đây, số bệnh nhân điều trị tại Khoa tăng lên: năm 2016, thu dung, điều trị 526 bệnh nhân. Trung bình mỗi ngày có từ 14 đến 15 bệnh nhân, lúc cao điểm lên tới 20 đến 22 bệnh nhân. Mặc dù Khoa triển khai nhiều biện pháp như: hằng tuần cọ rửa nền nhà, giường bằng thuốc khử khuẩn; duy trì nghiêm vệ sinh tay trước khi can thiệp vào bệnh nhân, nhưng do bệnh nhân đông, trong số người bị bỏng nặng và rất nặng, nhiều người có bệnh lý nội khoa mãn tính nặng như: tiểu đường, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não..., nên việc kiểm soát nhiễm khuẩn gặp nhiều khó khăn. Khoa Hồi sức cấp cứu luôn duy trì nghiêm chế độ trực chuyên môn; mỗi cán bộ, y, bác sĩ và nhân viên nêu cao trách nhiệm, hết lòng vì người bệnh. Có bệnh nhân hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, thấy điều trị dài ngày, lại không có khả năng chi trả viện phí, nên người thân đã “buông” không đến thăm nom, chăm sóc. Khoa đã cắt cử y, bác sĩ, nhân viên thay nhau ngày đêm, vừa điều trị thuốc, vừa chăm sóc vết thương cho bệnh nhân như người thân trong gia đình.

Trung tá Nguyễn Văn Bằng, Phó Chủ nhiệm Chính trị, Tổ trưởng Tổ công tác xã hội của Viện Bỏng chia sẻ: Để giúp đỡ các bệnh nhân nghèo, Viện Bỏng đã tích cực vận động các tập thể, cá nhân, các nhóm từ thiện giúp đỡ. Đồng thời, phối hợp T.Ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, một số ca sĩ, đoàn viên, thanh niên của trường đại học, cao đẳng trên địa bàn TP Hà Nội tổ chức các chương trình: “Mang âm nhạc đến bệnh viện”, “Ánh trăng tuổi thơ”, “Ngày chủ nhật đỏ”, để kêu gọi vận động từ thiện. Phối hợp kênh VOV4 (Đài Tiếng nói Việt Nam) tiếp nhận và thông tin trên sóng phát thanh về những bệnh nhân nghèo, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn để kêu gọi giúp đỡ, nhất là bệnh nhân nghèo người dân tộc, ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Những năm qua, Viện đã huy động được hàng tỷ đồng để giúp hàng trăm bệnh nhân bỏng nặng, thuộc diện hộ nghèo được cứu, chữa kịp thời. Hiện nay, hằng ngày có hơn 20 nhóm từ thiện phối hợp các khoa của Viện Bỏng tặng suất cơm, cháo miễn phí cho các bệnh nhân nghèo; hằng tuần 100% bệnh nhân được tặng sữa... Năm 2016 vừa qua, hàng trăm bệnh nhân được kêu gọi hỗ trợ, giúp đỡ; có bệnh nhân được hỗ trợ hàng trăm triệu đồng, như: trường hợp bệnh nhân Mai Thảo My, 21 tháng tuổi, quê ở xóm 4, xã Giao Hương, huyện Giao Thủy (Nam Định). Tháng 10-2016, cháu My không may ngã vào xoong canh bị bỏng nặng toàn thân 51% (40% độ sâu), lại bị sốc bỏng rất nặng. Hoàn cảnh gia đình cháu My khó khăn, Viện đã kêu gọi các nhà hảo tâm giúp đỡ hơn 400 triệu đồng giúp gia đình lo chữa trị cho cháu.

“Vợ chồng tôi làm ruộng ở quê, sinh được bốn cháu gái, cháu My là út lại không may bị bỏng nặng phải nằm điều trị dài ngày. Nếu không có sự giúp đỡ của Viện cùng các nhà hảo tâm thì vợ chồng tôi và gia đình không biết lấy đâu ra tiền chữa trị cho cháu. Hiện bệnh của cháu đã dần ổn định, vợ chồng tôi và gia đình cảm ơn cán bộ, y, bác sĩ Viện Bỏng và các nhà hảo tâm rất nhiều”, anh Mai Văn Ban, 42 tuổi, bố cháu Mai Thảo My, xúc động nói.

Đến Khoa Chữa bỏng trẻ em, đúng lúc các bác sĩ đang kiểm tra vết thương cho cháu Vàng Mý Lý, 7 tuổi, dân tộc Mông, quê ở xã Vân Chải, huyện Đồng Văn (Hà Giang), nhìn mặt, toàn thân và chân, tay cháu Lý băng kín, tôi cảm nhận sự tàn khốc của tai nạn bỏng. Anh Vàng Chử Lồng, 32 tuổi, là bố cháu Lý, kể: "Vợ chồng tôi ở nhà làm nương cho nên hoàn cảnh rất khó khăn; sinh được hai con trai, cháu Lý là út. Giữa tháng 2 vừa qua, cháu Lý vào bật bếp ga để nấu nước, nhưng do dây dẫn từ bình ga lên bếp bị chuột cắn thủng nhiều chỗ, nên khi cháu vừa bật bếp thì ngọn lửa bùng lên, tôi lao vào cứu cháu cũng bị lửa bén vào người làm bỏng cả tay, chân. May bình ga không phát nổ, chỉ làm cháy căn bếp... Đưa cháu Lý vào đây chữa trị, thấy hoàn cảnh khó khăn, cán bộ, thầy thuốc của Viện Bỏng không chỉ tận tâm cứu chữa, mà còn vận động các nhà hảo tâm giúp đỡ 24 triệu đồng để chữa bệnh cho cháu. Vợ chồng tôi và gia đình biết ơn cán bộ, y, bác sĩ của Viện và các nhà hảo tâm nhiều lắm. Đúng là cán bộ quân y - Bộ đội Cụ Hồ".

Bài và ảnh: TRẦN QUYẾT