Cơ chế thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Thứ Sáu, 25/01/2019, 03:47:56

Việc thực hiện tốt trách nhiệm xã hội không chỉ giúp bản thân doanh nghiệp phát triển, mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội.

Hiện nay, theo cảm nhận ban đầu nhiều người nghĩ, lợi ích của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (TNXHCDN) chỉ đề cập đến hoạt động nhân đạo và từ thiện, cứu trợ thiên tai, xóa đói, giảm nghèo. Tuy nhiên, ở cấp độ doanh nghiệp, TNXHCDN có thể góp phần nâng cao thương hiệu, giúp doanh nghiệp tăng thị phần, tạo thêm lợi nhuận, thông qua việc giúp doanh nghiệp tăng tính cạnh tranh. Do TNXHCDN liên quan việc thiết lập mối quan hệ mật thiết với các đối tác của doanh nghiệp như nhà cung cấp, khách hàng, người lao động, môi trường sống của cộng đồng... bằng cách quan tâm đến những lợi ích của họ, doanh nghiệp có thể khiến các đối tác của mình hài lòng và kết quả là, doanh nghiệp có thể hưởng lợi từ những mối quan hệ mật thiết này. Chẳng hạn như, mối quan hệ mật thiết với các khách hàng có thể giúp doanh nghiệp nhận thức tốt hơn về những nhu cầu của họ, từ đó giúp doanh nghiệp trở nên cạnh tranh hơn trong việc đáp ứng yêu cầu về chất lượng sản phẩm.

Trong một số trường hợp, TNXHCDN có thể đem lại hiệu suất lớn hơn (như tiết kiệm chi phí từ việc ứng dụng kỹ thuật giảm chất thải, điều này có thể giúp doanh nghiệp có được giá cả cạnh tranh hơn). Việc thực hiện trách nhiệm này khuyến khích các doanh nghiệp bảo đảm môi trường làm việc tốt cho người lao động, bao gồm bảo hiểm xã hội, an toàn lao động, đối xử bình đẳng, chăm sóc sức khỏe định kỳ,... Ở cấp độ quốc gia, TNXHCDN có thể góp phần xóa đói, giảm nghèo, thông qua những chương trình từ thiện. Các chính sách về TNXHCDN như đối xử bình đẳng giữa nam giới và nữ giới, với lao động cũ và mới cũng đem lại công bằng xã hội nói chung. Một đóng góp quan trọng nữa của TNXHCDN ở cấp quốc gia là góp phần bảo vệ môi trường. Điều này được xem là một đóng góp rất quan trọng do tình trạng ô nhiễm môi trường hiện đang đe dọa cuộc sống con người hơn bao giờ hết và tốn nhiều kinh phí, công sức để xử lý.

Thời gian qua, việc thực hiện TNXHCDN vẫn còn những bất cập. Đó là chưa có cơ chế xác định cụ thể về TNXHCDN, chưa có sự phân định trách nhiệm xã hội theo luật chuyên ngành và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nói chung. Vai trò của hiệp hội doanh nghiệp có vai trò gì trong vấn đề này? Ở nước ta, việc thực hiện TNXHCDN thường vẫn được xem là một hành động giải quyết các vấn đề xã hội vì mục đích từ thiện và nhân đạo. Trong khi đó, TNXHCDN nhìn chung phải được hiểu là cách thức mà một doanh nghiệp đạt được sự cân bằng hoặc kết hợp những yêu cầu về kinh tế, môi trường và xã hội đồng thời đáp ứng kỳ vọng của cổ đông và đối tác.

Đến nay, chúng ta chưa có các Bộ Quy tắc ứng xử và các tiêu chuẩn về TNXHCDN. Nhiều chương trình TNXHCDN đã được thực hiện, tuy nhiên, phía doanh nghiệp của Việt Nam đều chưa xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử có tính chất chuẩn mực áp dụng đối với nhân viên và các đối tác làm ăn của mình. Về phía Nhà nước, việc tổ chức các chương trình này nhiều khi vẫn mang tính hình thức. Trên thực tế, với các DN lớn, việc chi phí để áp dụng chương trình TNXHCDN có thể không làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh. Nhưng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, chi phí để thực hiện hoặc áp dụng TNXHCDN là một rào cản lớn. Tuy nhiên, những người lãnh đạo có tầm nhìn xa trông rộng sẽ có mục tiêu hoạt động không chỉ giới hạn bởi lợi nhuận. Thước đo thành công của họ bắt nguồn từ tác động mà họ tạo ra đối với nhu cầu xã hội. Các doanh nhân này tìm kiếm những giải pháp để thay đổi xã hội theo chiều hướng tốt hơn và đổi ngược lại, doanh nghiệp của họ sẽ có những điều kiện để phát triển bền vững hơn.

Cần tuyên truyền, giáo dục cho tất cả các doanh nghiệp, trước hết là người đứng đầu về TNXHCDN. Phải làm cho họ hiểu rằng trách nhiệm này không phải chỉ bó gọn trong công tác từ thiện, cứu trợ,... mà phải trở thành động cơ bên trong của các chủ doanh nghiệp. Việc này cần được xem là một hành vi đạo đức, được điều khiển bằng động cơ đạo đức. Đây chính là giải pháp bền vững tạo nên văn hóa doanh nghiệp Việt Nam.

Cần xây dựng một hành lang pháp lý, buộc các doanh nghiệp phải thực thi trách nhiệm xã hội một cách đầy đủ và nghiêm túc. Điều này liên quan trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo môi trường và khung pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động. Khung pháp lý chính là biện pháp có hiệu lực nhất đối với việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; đồng thời, là giải pháp hỗ trợ đắc lực cho giải pháp về đạo đức, làm cho các động cơ đạo đức được củng cố, ngày càng có hiệu lực. Điều khó khăn cho Việt Nam và các nước đang phát triển nói chung là trong bối cảnh cần thu hút đầu tư nước ngoài, nếu đặt nặng mục tiêu về môi trường và xã hội thì doanh nghiệp khó có thể thu hút đầu tư nước ngoài. Nhưng, nếu không đưa ra yêu cầu cao đối với vấn đề TNXHCDN thì hậu quả về môi trường, xã hội sẽ không thể bù đắp được bằng các kết quả của sự tăng trưởng kinh tế, không thực hiện được mục tiêu phát triển bền vững. Vì vậy phải có bộ công cụ để đánh giá doanh nghiệp thực hiện tốt điều này.

Nội dung quan trọng khác là cần có cơ chế tôn vinh những doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội. Đây là cơ sở để xếp hạng chỉ số tín nhiệm doanh nghiệp theo quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Luật sư LÊ ANH VĂN

(Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam)