Đẩy mạnh công tác bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ

Thứ Bảy, 05/01/2019, 02:58:46

Hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã và đang tác động tiêu cực tới đời sống, hoạt động sản xuất, kinh doanh và sức khỏe người tiêu dùng. Để có thể hội nhập sâu với nền kinh tế thế giới, thúc đẩy hoạt động sáng tạo của con người, công tác bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam cần được đẩy mạnh hơn nữa.

Báo cáo kết quả điều tra phần mềm toàn cầu năm 2018 của Liên minh phần mềm quốc tế BSA tại 110 quốc gia và nền kinh tế cho thấy, tại Việt Nam, tỷ lệ phần mềm không bản quyền được cài đặt trong máy tính cá nhân là 74%. Trong khi đó, thị trường mỹ phẩm tại Việt Nam có 75% là hàng giả và nhập lậu, chỉ có 25% là hàng thật, hàng có nguồn gốc xuất xứ. Theo Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, không chỉ thực phẩm, quần áo, đồ gia dụng, hàng tiêu dùng mà phân bón, vật tư nông nghiệp, bánh kẹo, thức ăn chăn nuôi... cũng bị làm giả, gây khó khăn cho các lực lượng chức năng trong việc kiểm tra, xử lý. Thủ đoạn của các đối tượng hiện nay rất tinh vi khi sử dụng công nghệ cao để sản xuất, gia công ở nước ngoài hoặc bán trộn lẫn với hàng thật, ảnh hưởng người tiêu dùng và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh chân chính. Tính từ đầu năm 2018 đến nay, lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý hơn 15 nghìn vụ việc vi phạm hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (SHTT). Tuy nhiên, theo Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả Đàm Thanh Thế, kết quả này chưa tương xứng với tình hình thực tế đang diễn ra. Tỷ lệ phát hiện, xử lý còn thấp, vi phạm diễn ra ngày càng phức tạp với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, hình thành các đường dây, băng nhóm sản xuất, tiêu thụ các mặt hàng vi phạm.

Theo một số chuyên gia, Việt Nam đã làm tốt việc xác lập quyền SHTT, nhưng việc thực thi quyền SHTT còn hạn chế. Có nhiều doanh nghiệp lớn, hiểu biết về pháp luật nhưng vẫn sử dụng phần mềm lậu, vi phạm quyền SHTT. Để xảy ra tình trạng nêu trên, một phần do sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng chưa chặt chẽ, thiếu thống nhất trong cách làm việc. Ngoài ra, do chế tài xử phạt còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe. Các vụ việc vi phạm về SHTT hiện được xử lý hành chính là chủ yếu, rất ít trường hợp đưa ra xét xử hình sự. Hiện mức xử phạt cao nhất đối với doanh nghiệp là 500 triệu đồng, cá nhân là 250 triệu đồng. Với mức phạt quá nhẹ như vậy, nhiều trường hợp chấp nhận bị phạt để tiếp tục vi phạm. Phó Chánh thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ Phạm Văn Toàn cho rằng, hệ thống pháp luật của Việt Nam về SHTT cơ bản là đầy đủ và hoàn thiện, tương thích với các quy định chung của thế giới. Trong thực thi quyền SHTT đã bảo đảm quyền của chủ sở hữu. Ngoài các biện pháp xử lý bằng hành chính, còn có các biện pháp dân sự, hình sự, chế tài kiểm soát biên giới cũng được đặt ra. Nếu tăng cường các biện pháp xử lý khác ngoài hành chính thì những hành vi xâm phạm quyền SHTT tại Việt Nam sẽ giảm đáng kể.

Trong quá trình hội nhập, mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đầy thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc tuân thủ nghiêm các vấn đề về SHTT. Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH 13 sửa đổi bổ sung năm 2017 (có hiệu lực từ ngày 1-1-2018), lần đầu đã quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với các hành vi xâm phạm quyền SHTT. Đây là bước tiến quan trọng, góp phần đưa pháp luật hình sự của nước ta gần hơn với chuẩn mực pháp luật của các nước trên thế giới, đồng thời đặt ra nhiều thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình thực thi quyền SHTT. Những vi phạm về SHTT sẽ không chỉ dừng lại ở mức xử phạt hành chính, dân sự, mà có thể xử lý hình sự, qua đó góp phần giảm tình trạng vi phạm SHTT. Vì thế các doanh nghiệp, cá nhân và tổ chức cần nâng cao nhận thức về SHTT, tránh các vi phạm về SHTT, nhằm duy trì và phát triển doanh nghiệp vững mạnh.

NHẬT MINH