Mở rộng diện tích cây ngô tại các tỉnh miền núi phía bắc

Thứ Năm, 12/07/2018, 01:53:42
 Font Size:     |        Print
 

Người dân tham quan, học tập mô hình thâm canh cây ngô lai tại xã Hùng An, huyện Bắc Quang (Hà Giang).

Những năm gần đây, cây ngô ngày càng có vai trò quan trọng đối với đời sống của nông dân miền núi phía bắc, bởi vừa là cây lương thực chủ đạo vừa là cây hàng hóa cho giá trị kinh tế cao, đem lại thu nhập đáng kể và góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân.

Để tiếp tục phát triển cây ngô, ngoài các giải pháp kỹ thuật tổng thể, rất cần chính sách cởi mở hơn trong thu hút các doanh nghiệp đầu tư cơ sở chế biến gắn với bao tiêu sản phẩm, giúp nông dân sản xuất bền vững.

Quy hoạch vùng trọng điểm

Theo kết quả thống kê của Viện Nghiên cứu Ngô, diện tích gieo trồng ngô cả nước trong khoảng 5 năm gần đây đạt 1,05 đến 1,1 triệu héc-ta, năng suất trung bình toàn quốc dao động từ 47 đến 48 tạ/ha, nâng sản lượng ngô của cả nước hiện nay lên 5,2 đến 5,3 triệu tấn. Riêng các tỉnh miền núi phía bắc, đạt 37 đến 38 tạ/ha, với sản lượng ngô hạt bình quân vùng đạt hơn 1,9 triệu tấn. Đây là số lượng được cho là chưa tương xứng với tiềm năng phát triển cây ngô tại các tỉnh miền núi phía bắc, trong khi nhu cầu tiêu thụ lương thực ngày càng lớn.

Thời gian qua, Chính phủ đã ban hành các chính sách nhằm hỗ trợ chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả, khó tưới sang trồng ngô. Đây là cơ hội để đồng bào các dân tộc dịch chuyển vùng ngô và tăng vụ ngô trên đất vốn chỉ trồng một vụ lúa nhờ nước trời. Nhờ đó, sản xuất ngô trong nước đã bước đầu hình thành các vùng sản xuất ngô hàng hóa tập trung, ứng dụng quy trình kỹ thuật mới để tăng năng suất, giảm giá thành, tăng chất lượng sản phẩm...

Hà Giang hiện là tỉnh có tốc độ tăng trưởng cây ngô cao nhất trong các loại cây lương thực tại địa phương. Phó Chi cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Hà Giang Giang Đức Hiệp cho biết: “Diện tích ngô năm 2010 của tỉnh là 47.559 ha, đến năm 2017 đạt 53.713 ha. Trong đó, tăng diện tích ngô vụ hai ở bốn huyện vùng cao là Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ; tăng vụ ba ở các huyện vùng thấp. Diện tích trồng ngô tăng đã góp phần tăng hệ số sử dụng đất, tăng giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích đất canh tác; đồng thời thúc đẩy chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển mạnh trong những năm qua”.

Không chỉ có Hà Giang, nhận thức rõ vị trí hết sức quan trọng của cây ngô trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tỉnh Điện Biên đã nhanh chóng quy hoạch lại vùng sản xuất theo ba mùa vụ: vụ xuân hè, hè thu và vụ đông. Trong đó, sản xuất ngô vụ xuân hè là vụ chính (chiếm hơn 94% diện tích ngô cả năm), vụ hè thu (chiếm khoảng 4%), còn lại là ngô vụ đông. Diện tích sản xuất ngô tập trung chủ yếu tại các huyện: Điện Biên, Điện Biên Đông, Tuần Giáo và Tủa Chùa. Điều đáng nói là diện tích trồng ngô của Điện Biên luôn trong xu hướng năm sau tăng cao hơn năm trước. Hiện tỉnh đã đạt hơn 30.594,7 ha (đạt 102,9% so với kế hoạch), tăng 617,2 ha so với năm 2016; năng suất 26,19 tạ/ha (đạt 98,7%); sản lượng 80.089,5 tấn (đạt 101,6%), tăng 1.575,8 tấn so với năm 2016.

Tuy nhiên, theo Viện trưởng nghiên cứu Ngô Bùi Mạnh Cường, sản xuất ngô của nước ta vẫn còn phân tán, nhỏ lẻ, chưa liên kết theo chuỗi, chưa gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ; công nghệ sau thu hoạch không được quan tâm đầu tư, trong khi việc áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất còn rất thấp, các biện pháp kỹ thuật canh tác chưa được nghiên cứu và áp dụng đồng bộ, mức đầu tư thấp, sử dụng phân bón thiếu khoa học gây lãng phí. Vì thế, năng suất ngô trung bình của nước ta vẫn thấp so với thế giới và một số nước trong khu vực, cũng như chúng ta còn thiếu các giải pháp kỹ thuật tổng thể sản xuất ngô cho từng vùng sinh thái.

Để ngô trở thành cây trồng chủ lực

Mặc dù miền núi phía bắc là vùng trọng điểm phát triển cây ngô, nhưng với những diễn biến gần đây cho thấy, việc trồng ngô trên đất đồi núi, hay trồng một đến hai vụ ngô vào mùa mưa, đều cho năng suất thấp… Chưa kể, hiện một số vùng đất tốt, nếu trước đây trồng ngô thì hiện nay người dân đều đã chuyển sang trồng cây ăn quả cho hiệu quả kinh tế cao hơn gấp nhiều lần, vì vậy diện tích ngô vùng trọng điểm này đang ngày càng giảm mạnh.

Cũng theo ông Bùi Mạnh Cường, để ngô tiếp tục trở thành cây trồng chủ lực tại các tỉnh miền núi phía bắc, Viện đã nghiên cứu đưa ra nhiều giải pháp, trong đó tập trung phát triển các giống ngô ưu thế lai, chỉ sử dụng hạt đời F1 chiếm 98 đến 99%.

Hiện cả nước có khoảng 50 giống ngô lai (gồm 35 giống ngô tẻ, 10 giống ngô nếp và bốn đến năm giống ngô đường) được lai tạo, chọn lọc từ Viện nghiên cứu Ngô và một số công ty giống lớn như Công ty Cổ phần giống cây trồng (CTCPGCT) Trung ương, CTCPGCT Miền Nam, CTCPGCT Thái Bình… chiếm thị phần lớn như giống: LVN 10, LVN99, LVN4, LVN61, NK66, NK67, NK4300, PAC, DK9955, DK6818...

Nhờ có một ngân hàng giống lai phong phú, diện tích và năng suất ngô tại các tỉnh miền núi phía bắc tăng lên đáng kể. Phó Chi cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Hà Giang Giang Đức Hiệp cho biết, diện tích ngô lai ở Hà Giang chiếm khoảng 60% diện tích ngô toàn tỉnh. Các giống ngô lai chủ yếu là NK 4300, NK66, NK 54, DK 989 đều cho năng suất cao, bán được giá cho nên người dân rất phấn khởi, yên tâm sản xuất.

Không chỉ có giống ngô lai được đưa vào sản suất đại trà cho năng suất cao, hiện các tỉnh miền núi phía bắc đã bước đầu đưa giống ngô biến đổi gen vào canh tác. Tính đến hết ngày 30-3-2018, Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đã công nhận tổng số 16 giống ngô biến đổi gen.

Nói về ngô biến đổi gen, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Điện Biên Hà Văn Quân, cho biết, hiện tỉnh đã đưa một số giống ngô biến đổi gen của Công ty Dekalb Việt Nam (giống ngô DK6818S, DK6919S, DK9955S) và Công ty Syngenta Việt Nam (giống ngô NK7328Bt/GT) vào trồng thử nghiệm trong vụ xuân hè 2016, hè thu 2016 và xuân hè 2017 với tổng diện tích 4 ha. Các giống ngô biến đổi gen đều cho năng suất tương đương các giống ngô lai khác (75 đến 84 tạ/ha) song có ưu điểm là kháng được sâu đục thân, đục bắp và chống chịu được thuốc trừ cỏ có gốc Glyphosate cho nên giảm chi phí cho thuốc bảo vệ thực vật và công lao động.

Dù ngô biến đổi gen có nhiều ưu điểm so với ngô lai và ngô truyền thống, nhưng theo anh Giàng A Chử ở huyện Điện Biên Đông, do giá hạt giống ngô biến đổi gen cao (khoảng hơn 200 nghìn đồng/kg) gấp hai lần giá các giống ngô khác, người dân còn e dè, chưa tiếp nhận các giống ngô biến đổi gen vào sản xuất đại trà, cũng như tiêu thụ ngô biến đổi gen.

Từ thực tế của hai tỉnh Điện Biên, Hà Giang cho thấy, để cây ngô trở thành cây trồng chủ lực rất cần những chính sách cởi mở trong thu hút đầu tư, hỗ trợ khoa học - công nghệ. Chỉ có áp dụng khoa học - công nghệ mới giải phóng sức lao động, giảm giá thành sản phẩm, đồng thời tạo chuỗi liên kết trong tiêu thụ sản phẩm giữa nông dân và doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi; giữa nông dân với các doanh nghiệp chăn nuôi để người dân yên tâm sản xuất, góp phần xóa đói giảm nghèo.

Theo tính toán của Cục Chăn nuôi, nhu cầu ngô làm thức ăn chăn nuôi của Việt Nam, khoảng 12 đến 13 triệu tấn, tùy thuộc vào việc tăng đàn gia súc, gia cầm và lợn. Chúng ta mới chỉ sản xuất được 5,2 đến 5,3 triệu tấn, tương đương gần 45%, số phải nhập khẩu hằng năm từ sáu đến tám triệu tấn. Theo số liệu Tổng cục Hải quan, năm 2015, Việt Nam nhập 7,52 triệu tấn ngô hạt, năm 2016 nhập 8,3 triệu tấn và 2017 nhập 7,75 triệu tấn.

Bài và ảnh: HÀ TOÀN

Chia sẻ