Bất cập trong sản xuất, tiêu thụ thức ăn chăn nuôi

Thứ Bảy, 15/07/2017, 01:39:34
 Font Size:     |        Print
 

Sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Công ty TNHH Cargill Việt Nam. Ảnh: NGUYỄN HÂN

Theo Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), đến năm 2016 cả nước có hơn 230 cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp, sản lượng 23,5 triệu tấn. Với giá bán từ 8.000 đến 9.000 đồng/kg thức ăn chăn nuôi tùy loại, để có 1 kg thịt lợn, người nuôi cần 4 kg thức ăn chăn nuôi, do đó với giá lợn như hiện nay, người nuôi không có lãi.

Kẻ cười, người khóc

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT), giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu trong tháng 6-2017 ước đạt 352 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu mặt hàng này sáu tháng đầu năm lên 1,8 tỷ USD, tăng 18,9% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương, ngô sáu tháng qua đều tăng, trong đó đậu tương đạt 796 nghìn tấn và 350 triệu USD, ngô đạt 3,53 triệu tấn và 710 triệu USD. Thị trường lớn nhất cung cấp thức ăn chăn nuôi (TĂCN) nhập khẩu cho Việt Nam là: Ác-hen-ti-na, chiếm 43,9% thị phần; tiếp đến là Mỹ 11,1%; Ấn Ðộ 5,2%…

Nguyên nhân nhập khẩu sản phẩm này về Việt Nam tăng mạnh là do giá TĂCN (chủ yếu là ngô và đậu tương) ở các nước nêu trên đang ở mức khá thấp; trong khi giá nguyên liệu tại nội địa lại cao nên khó cạnh tranh. Ðơn cử như giá ngô nhập từ Mỹ,
Ác-hen-ti-na về đến nước ta được chào bán với giá 4.700 đồng/kg, thấp hơn trong nước.

Muốn mua với số lượng bao nhiêu cũng có, biết chắc giá và phẩm cấp sản phẩm, thuận lợi cho doanh nghiệp (DN) trong việc tính toán, sản xuất, kinh doanh. Và để thu được lợi nhuận tối đa, các DN liên doanh, DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) không ưu tiên nguồn nguyên liệu trong nước mà sử dụng nguyên liệu nhập khẩu có giá rẻ hơn. Hiện các DN như: Guymuch, Cargill, Dehur, Greenfeed…, đang chiếm lĩnh thị trường TĂCN với khoảng 65% thị phần. Mặt khác, từ năm 2014 mức thuế giá trị gia tăng phải đóng khi nhập khẩu các loại nguyên liệu để chế biến TĂCN giảm từ 5% xuống còn 0%. Ðầu vào đã rẻ lại được giảm thuế, trong khi giá bán sản phẩm giảm “nhỏ giọt” cho nên các DN thu lời lớn đều đều. Thời gian qua họ còn mở thêm nhà máy mới, tăng công suất các nhà máy; không ít DN gia tăng sức mạnh bằng cách tạo ra nhiều chiêu trò cạnh tranh không lành mạnh, kể cả chiết khấu hoa hồng cao cho các đại lý.

Theo báo cáo thanh tra của Bộ NN và PTNT, qua kiểm tra cho thấy, một số doanh nghiệp FDI chiết khấu “hoa hồng” cao cho các đại lý cấp I từ 20 đến 30%, đẩy giá sản phẩm lên gây khó khăn cho ngành chăn nuôi và nông hộ. Chưa hết, nhiều hộ chăn nuôi lợn nhỏ lẻ ở các huyện: Phú Xuyên, Ứng Hòa, Quốc Oai, Thạch Thất (Hà Nội) còn cho biết, do ít vốn nên đành phải mua chịu, mua trả góp... dẫn tới giá TĂCN bị “đội” lên. Nếu giá lợn hơi vẫn lên xuống thất thường như hiện nay thì sẽ có không ít hộ phải chuyển sang làm nghề khác để mưu sinh.

Ðể đôi bên cùng có lợi

Ðể bảo vệ quyền lợi của người chăn nuôi, các cơ quan quản lý nhà nước cần có ngay các giải pháp quyết liệt để bình ổn thị trường TĂCN, đồng thời có biện pháp tổ chức, sắp xếp lại các DN chế biến. Hiện, nhiều nước quản lý giá TĂCN bằng cách áp giá trần lên sản phẩm, khống chế tỷ lệ lợi nhuận hoặc nguyên liệu đầu vào. Ðơn cử như Thái-lan khống chế lợi nhuận của ngành này không vượt quá 5%. Hay Trung Quốc, giá trần khống chế từ nguyên liệu đầu vào, tham khảo giá thế giới và mức chênh lệch cũng không được quá 5%. Ðây là cách làm khá hiệu quả, chúng ta cần tham khảo để từ đó có thể tìm ra lời giải cho “bài toán” nghịch lý giá TĂCN, quản lý thị trường này hữu hiệu, góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển, cải thiện thu nhập cho người dân.

Với 23,5 triệu tấn cám công nghiệp hiện nay là quá dư thừa, cần phải tổ chức lại sản xuất ngành TĂCN. Ðược biết tới đây, Bộ NN và PTNT sẽ có thông báo yêu cầu các tỉnh không phát triển nữa, chuyển một phần sản xuất sang cám truyền thống, giảm nhập nguyên liệu về làm cám công nghiệp. Sớm có chính sách xem xét lại quy hoạch phát triển ngành TĂCN, cân đối giữa diện tích trồng lúa như hiện nay và diện tích trồng ngô - nguồn nguyên liệu chính để làm TĂCN. Hướng đến sản xuất theo mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã, cùng nhau lựa chọn doanh nghiệp TĂCN phù hợp tình hình chăn nuôi ở khu vực để mua chung đơn hàng, tiến tới mua trực tiếp của các nhà máy để hưởng ưu đãi về giá, không phải qua "cầu" trung gian. Cần tiếp tục thực hiện chu trình khép kín “sản xuất - tiêu thụ” theo chuỗi giá trị, chú trọng giảm chi phí, phòng chống dịch bệnh tốt, tận dụng nguyên liệu sẵn có để giảm giá TĂCN và tăng khả năng cạnh tranh. Một số hộ nông dân ở Hà Nội, Ðồng Nai…, đã áp dụng phương pháp “tự cung tự cấp” - tức là tự mua nguyên liệu, tự pha chế, chế biến thức ăn cho lợn thay vì mua thức ăn của các công ty, cho nên tiết kiệm được khá nhiều lượng TĂCN để vượt qua tình cảnh khó khăn hiện tại.

Anh Quang

Chia sẻ