Phát triển nền nông nghiệp hiện đại, bền vững, gắn với xây dựng nông thôn mới

Thứ Năm, 06/12/2018, 03:39:46
 Font Size:     |        Print

Năm 2018 sắp qua đi, cũng vừa khép lại 10 năm ngành nông nghiệp triển khai thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, ngày 5-8-2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn với nhiều kết quả đã đạt được, đồng thời mở ra một thời kỳ mới phát triển nền nông nghiệp hiện đại, bền vững; xây dựng nông thôn mới phồn vinh và văn minh; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn.

Những thành công nổi bật

Ngay sau khi Nghị quyết số 26-NQ/TW được ban hành, các cấp ủy Đảng và cả hệ thống chính trị nỗ lực triển khai thực hiện nghiêm túc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự giám sát của Quốc hội, sự điều hành và chỉ đạo kịp thời của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự phối hợp của các bộ, ngành địa phương, cộng với sự tham gia hưởng ứng tích cực của cộng đồng doanh nghiệp và hàng triệu hộ dân nông thôn, nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Cơ cấu sản xuất từng ngành được điều chỉnh, chuyển đổi theo hướng phát huy lợi thế của mỗi địa phương và cả nước gắn với nhu cầu thị trường. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 10 năm (2008 - 2017) của toàn ngành nông, lâm, thủy sản đạt 2,66%/năm, tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành đạt 3,9%/năm. Năm 2018, tốc độ tăng trưởng GDP ngành đạt khoảng 3,6 đến 3,7%. Trình độ canh tác không ngừng được đổi mới. Năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất nhiều loại nông sản được nâng cao; sản xuất chuyển mạnh theo hướng chất lượng và giá trị gia tăng; giá trị và sản lượng nhiều nông sản đều tăng mạnh. Năng suất lao động nông nghiệp đã được cải thiện, tăng từ 13,6 triệu đồng/lao động năm 2008 lên 35,5 triệu đồng/lao động năm 2017; giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích đất trồng trọt tăng lên, từ 43,9 triệu đồng/ha năm 2008 lên 90,1 triệu đồng/ha năm 2017. Từ một nước phải nhập khẩu, đến nay nông sản Việt Nam đã có mặt trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, với kim ngạch xuất khẩu đứng thứ hai Đông - Nam Á và thứ 15 thế giới. Một số nông sản đã khẳng định được vị thế và khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Tổng kim ngạch xuất khẩu 10 năm đạt hơn 261 tỷ USD, trong đó xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2017 đạt 36,5 tỷ USD, tăng 2,2 lần so với năm 2008 và dự kiến năm nay đạt hơn 40 tỷ USD. Đã có 10 nhóm mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu từ 1 tỷ USD trở lên, trong đó có năm mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 3 tỷ USD. Độ che phủ rừng tăng mạnh, từ mức 38,7% năm 2008 lên 41,45% năm 2017 và 41,65% năm 2018.

Cơ cấu ngành nghề và cơ cấu lao động nông thôn có sự thay đổi tích cực. Số hộ nông thôn tham gia các hoạt động công nghiệp, xây dựng và dịch vụ năm 2016 chiếm 40,03% (tăng 14,93% so với năm 2006). Kinh tế hộ nông thôn chuyển dịch theo hướng phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, hình thành nhiều trang trại với quy mô lớn hơn, hiệu quả cao hơn. Đến hết năm 2017, cả nước có 34.048 trang trại, tăng mạnh so với năm 2012 (22.564 trang trại). Số hộ chuyển sang làm ngành nghề, dịch vụ ngày càng tăng. Bên cạnh đó, nhiều hợp tác xã kiểu mới được hình thành và phát triển, hỗ trợ tốt hơn cho sự phát triển kinh tế hộ gia đình. Năm 2017, cả nước có 11.688 hợp tác xã (HTX) nông nghiệp (gấp gần hai lần năm 2008), đến hết tháng 11 năm 2018 cả nước đã có 13.278 HTX nông nghiệp; năm 2017 cả nước có 1.154 HTX phi nông nghiệp, 1.183 quỹ tín dụng nhân dân với 4,4 triệu thành viên, 1,58 triệu lao động, tổng tài sản 51.168 tỷ đồng. Tỷ lệ HTX nông nghiệp hoạt động hiệu quả tăng từ 10% (năm 2012) lên 33% (năm 2017). Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp trong cơ cấu thu nhập bình quân đầu người/tháng khu vực nông thôn tăng từ 60,5% lên 73%. Thu nhập bình quân đầu người/năm ở nông thôn đã tăng 3,49 lần, từ 9,15 triệu đồng năm 2008 lên 32 triệu đồng năm 2017. Khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn thu hẹp từ 2,1 lần năm 2008 còn 1,8 lần năm 2017. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm bình quân 1,5%/năm, riêng ở các huyện nghèo giảm tới 4%/năm.

Vai trò, vị thế chủ thể của người nông dân ngày càng được nâng lên, nhất là trong xây dựng nông thôn mới. Đến tháng 11 năm 2018 cả nước đã có 3.687 xã (41,32%) đạt chuẩn nông thôn mới; bình quân đạt 14,33 tiêu chí/xã; có 58 đơn vị cấp huyện thuộc 30 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được công nhận đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

Chương trình nông thôn mới đã góp phần đưa 99,4% xã trên cả nước có đường ô-tô đến trung tâm xã; toàn bộ số xã, 97,8% số thôn, 99,2% hộ nông thôn có điện; 99,7% số xã đã có trường tiểu học và trường mẫu giáo; 99,5% số xã có trạm y tế xã; 60,8% số xã có chợ; 58,6% số xã có nhà văn hóa. Có 88,5% dân số nông thôn bảo đảm được cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Chăm sóc y tế ở các vùng nông thôn được cải thiện. Hệ thống giáo dục ở nông thôn tiếp tục phát triển. Nhiều hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao được đẩy mạnh, bản sắc văn hóa được bảo tồn, phát huy. Trật tự xã hội ở nông thôn được giữ vững.

Còn nhiều khó khăn

Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, quá trình thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW cũng còn nhiều tồn tại, hạn chế, nhất là về tổ chức sản xuất, chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới.

Nhiều năm tăng trưởng nông nghiệp thấp hơn mục tiêu 3,5 đến 4%/năm như Nghị quyết đề ra. Nông nghiệp vẫn dựa chủ yếu vào nông hộ nhỏ thiếu liên kết, dễ tổn thương trước biến động của thị trường và thiên tai, dịch bệnh. Chất lượng và khả năng cạnh tranh của nhiều loại nông sản chưa cao. Tình trạng mất an toàn vệ sinh thực phẩm còn nhiều bất cập.

Nông thôn phát triển chưa đồng đều; khoảng cách chênh lệch về xây dựng nông thôn mới giữa các vùng, miền còn khá lớn. Cơ sở hạ tầng nông thôn, nhất là giao thông, thủy lợi, điện còn nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, công nghiệp và dịch vụ, văn hóa, xã hội nông thôn, nhất là ở các vùng miền núi.

Thu nhập và đời sống của phần lớn nông dân còn thấp; có nơi tỷ lệ hộ nghèo còn cao; thu nhập bình quân của nông dân năm 2017 chỉ bằng 78% bình quân chung cả nước. Kết quả giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ tái nghèo bình quân chiếm 5,1% số hộ thoát nghèo. Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn chưa đạt yêu cầu; đến hết năm 2017, lao động nông nghiệp vẫn chiếm 40,1% trong tổng số lao động xã hội, đến nay còn khoảng 38%.

Tỷ trọng vốn đầu tư xã hội cho nông nghiệp, nông thôn chỉ chiếm khoảng 5,8% tổng vốn đầu tư xã hội cả nước và có xu hướng giảm. Đầu tư theo hình thức đối tác công tư mới chỉ ở quy mô nhỏ, thí điểm. Nông nghiệp, nông thôn đang phải cạnh tranh nguồn lực gay gắt với các lĩnh vực khác, trong khi biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp.

Nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế chủ yếu là nhận thức về vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của “nông nghiệp, nông dân, nông thôn” theo Nghị quyết ở nhiều nơi chưa đầy đủ. Nhiều nơi chưa quán triệt và thực hiện tốt phương châm “nông dân là chủ thể”, chưa làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân, nên sự tham gia của quần chúng chưa tích cực, có tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào đầu tư của Nhà nước; có nơi lại có biểu hiện lạm dụng sự đóng góp của người dân để thực hiện các nhiệm vụ công cộng. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của nhiều cấp ủy còn thụ động. Bộ máy quản lý nhà nước ở nông thôn đông nhưng chưa mạnh. Quản lý nhà nước về nông nghiệp và nhiều lĩnh vực ở nông thôn còn nhiều bất cập. Sự phối hợp của các bộ, ngành, địa phương trong tổ chức, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết có lúc, có nơi chưa hiệu quả, còn chồng chéo. Việc thể chế hóa các chủ trương, hướng dẫn thực hiện chính sách kéo dài, chờ đợi lẫn nhau. Hoạt động của một số tổ chức cơ sở của các đoàn thể chính trị - xã hội còn hình thức, thụ động.

Cơ chế, chính sách ban hành nhiều, nhưng chủ yếu ngắn hạn và chưa đồng bộ, có chính sách ban hành nhưng thiếu quy định nguồn lực thực hiện. Một số cơ chế, chính sách chưa phù hợp với yêu cầu xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mang nặng tính bao cấp, xin cho nên hầu như không vào cuộc sống. Tổ chức triển khai thực hiện nhiều cơ chế, chính sách ở một số địa phương chưa tốt. Nguồn vốn cho thực hiện các nhiệm vụ trong Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP dựa nhiều vào ngân sách nhà nước, nhưng cũng chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu, mức huy động từ các nguồn khác còn thấp, chưa bảo đảm 5 năm sau tăng gấp hai lần đầu tư ngân sách cho nông nghiệp, nông thôn so với 5 năm trước như Nghị quyết đề ra. Khả năng tiếp cận vốn vay từ các nguồn chính thức còn thấp so với yêu cầu.

Cuộc cách mạng mới cho “Tam nông”

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trên cơ sở bài học rút ra từ thực tiễn những năm qua và tiếp thu những ý kiến chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ và ý kiến của các bộ, ngành, địa phương từ Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW được tổ chức cuối tháng 11 vừa qua. Đáng chú ý, phát biểu kết luận Hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cho rằng “phải làm cuộc cách mạng mới trong nông nghiệp”, ngành nông nghiệp đề ra mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp hiện đại có khả năng cạnh tranh cao, thích ứng với biến đổi khí hậu, có chất lượng và giá trị gia tăng cao; kinh tế nông thôn phát triển đa dạng, phồn thịnh và văn minh; cải thiện nhanh hơn đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Để đạt mục tiêu đề ra, trong những năm tới, ngành nông nghiệp tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả cơ cấu lại nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Trong đó, đổi mới cơ chế, chính sách, trọng tâm là chính sách đất đai; tổ chức lại sản xuất, phát triển doanh nghiệp; đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, nhất là công nghệ tiên tiến và công nghệ cao là các khâu đột phá, then chốt. Có chính sách phù hợp để hằng năm sản xuất khoảng 35 đến 40 triệu tấn lúa làm nòng cốt bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, vừa tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với lợi thế và nhu cầu thị trường, thích ứng với biến đổi khí hậu từng vùng, miền, hình thành các vùng sản xuất cây trồng hàng hóa tập trung ổn định, quy mô lớn. Giai đoạn 2020 - 2030, chuyển đổi khoảng 400 đến 500 nghìn héc-ta đất trồng lúa sang trồng cây khác có hiệu quả cao hơn, làm đất chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp và dịch vụ nông thôn. Khuyến khích, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái, hữu cơ. Áp dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc cách mạng 4.0 vào trong nông nghiệp.

Về nông thôn, phát triển kinh tế nông thôn; trong chiến lược phát triển của các ngành và địa phương, tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong nông thôn. Chú trọng phát triển công nghệ bảo quản hiện đại, giảm nhanh tổn thất sau thu hoạch; chế biến nông, lâm, thủy sản, nhất là chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng; công nghiệp phục vụ nông nghiệp; các ngành nghề sử dụng nhiều lao động. Đồng thời, tích cực bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống; gắn hoạt động kinh tế của các làng nghề với dịch vụ du lịch và bảo tồn, phát triển văn hóa truyền thống. Thực hiện hiệu quả chương trình “Mỗi xã một sản phẩm”.

Xây dựng nông thôn mới toàn diện, bảo đảm chất lượng và bền vững gắn với đô thị hóa trong tương lai, nhất là các khu vực ven các đô thị lớn. Trong đó, tập trung tổ chức thực hiện Chỉ thị số 36/CT-TTg ngày 30-12-2016 của Thủ tướng Chính phủ. Coi trọng phát triển, hỗ trợ tích cực xây dựng nông thôn mới ở các vùng có nhiều khó khăn, nhất là miền núi, hải đảo, không để tụt hậu và thua kém quá xa so với các vùng khác. Thực hiện có hiệu quả chiến lược giảm nghèo bền vững, ưu tiên hỗ trợ các địa phương hiện có tỷ lệ hộ nghèo cao. Duy trì tốc độ giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước từ 1 đến 1,5%/năm, riêng các huyện nghèo giảm 4%/năm.

Phát huy vai trò chủ thể của nông dân, tiếp tục hoàn thiện chính sách đất đai theo hướng quản lý chặt chẽ, bảo vệ và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai trên cơ sở hình thành thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp, bảo vệ quyền lợi của nông dân. Tạo điều kiện cho nông dân sử dụng linh hoạt đất nông nghiệp, bao gồm cả đất trồng lúa. Rà soát điều chỉnh chính sách thuế theo hướng ưu đãi hơn cho các doanh nghiệp đầu tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn, tạo nhiều việc làm và thu nhập cho người dân nông thôn, vừa tăng nguồn thu cho ngân sách cấp xã, huyện.

Đổi mới hệ thống tài chính, tín dụng, nâng cao khả năng tiếp cận cho nông dân và doanh nghiệp nông thôn, trở thành kênh đầu tư chính hỗ trợ tích cực phát triển kinh tế hộ sản xuất hàng hóa. Đồng thời, tăng đầu tư ngân sách cho việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho nông dân để có thể làm chủ và nâng cao trình độ khoa học, công nghệ, ứng dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao trong sản xuất, bảo quản, chế biến nông, lâm, thủy sản; nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho nông dân.

Tuy nhiên, để nông nghiệp, nông dân, nông thôn phát triển mạnh mẽ, diện mạo nông thôn khởi sắc, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao, không thể thiếu sự tăng cường lãnh đạo của Đảng, cấp ủy các cấp; năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, người đứng đầu địa phương; sự ủng hộ, vào cuộc tích cực của toàn xã hội và cả hệ thống chính trị, cũng như khắc phục tính tự ti, ỷ lại, chờ đợi của một bộ phận nông dân. Hy vọng đến năm 2020, giai đoạn tới năm 2030 và những năm tiếp theo, phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn cả nước sẽ đạt được nhiều thành quả to lớn hơn nữa, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết T.Ư 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

NGUYỄN XUÂN CƯỜNG

Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Chia sẻ