"Ðộ trễ" cần thiết

Thứ Bảy, 21/04/2018, 02:51:42
 Font Size:     |        Print

Việc chậm ứng dụng các kết quả đề tài, dự án nghiên cứu khoa học và công nghệ (KH và CN) vào cuộc sống là một sự lãng phí. Thực tế, có nhiều đề tài nghiên cứu rủi ro, nghiên cứu trong nhiều năm mới đưa lại kết quả hoặc nghiên cứu thành công nhưng vẫn phải đợi cơ hội được đầu tư, thương mại hóa.

Theo Bộ KH và CN, kỹ thuật ghép tạng được các nhà khoa học Việt Nam bắt đầu nghiên cứu từ những năm 1991, đến năm 1992 mới thông qua nhiệm vụ KH và CN để thực hiện ca ghép thận. Gần 10 năm sau, kỹ thuật này mới được phát triển trong 12 bệnh viện và đến nay có 18 bệnh viện trong cả nước ứng dụng thành công kỹ thuật ghép tạng. Hàng loạt các nhiệm vụ KH và CN được nghiên cứu tiếp sau đó để làm chủ kỹ thuật ghép các bộ phận khác như: ghép gan năm 2004, ghép tim năm 2010; ghép thận từ người cho chết não năm 2010; ghép khối tụy và thận từ người cho chết não 2014… Những thành công trong lĩnh vực ghép tạng đã rút ngắn khoảng cách tụt hậu gần 50 năm về trình độ ghép tạng của các nhà khoa học Việt Nam so với thế giới.

Ðề tài nghiên cứu của TS Nguyễn Thị Ngọc Trâm về chiết xuất dược chất từ cây trinh nữ hoàng cung vào năm 1999, tạo ra viên nang Crila dùng để chữa u xơ tử cung và tiền liệt tuyến. Sản phẩm đã được Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm của Mỹ (FDA) cấp phép đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường Mỹ và được tặng "Biểu tượng vàng vì sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cộng đồng". Ðề tài này đã được TS Trâm nghiên cứu 17 năm, thực hiện bảy nhiệm vụ KH và CN mới phát triển được viên nang Crila và hình thành vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất. Năm 2012, lần đầu tiên vắc-xin Rotavin - M1 phòng bệnh tiêu chảy được các nhà khoa học trong nước nghiên cứu, sản xuất thành công.

Trải qua 16 năm nghiên cứu với 5 nhiệm vụ KH và CN mới tạo ra được chủng vi-rút đặc thù phù hợp với người Việt Nam và hoàn thiện quy trình, sản xuất. Ðây là thành tựu to lớn của ngành y tế Việt Nam vì là một trong bốn nước trên thế giới (sau Mỹ, Bỉ, Trung Quốc) sản xuất được vắc-xin ngừa tiêu chảy do vi-rút. Các nhà khoa học của dự án sản xuất vắc-xin này từng chia sẻ, mất rất nhiều năm có thể nghiên cứu để sản xuất ra một loại vắc-xin. May mắn mới đưa được sản phẩm ra thị trường, nhưng nếu chỉ cần một giai đoạn không đạt thì tất cả lại quay về con số 0.

Những dẫn chứng trên cho thấy, "độ trễ" trong quá trình nghiên cứu KH và CN là cần thiết. Tuy nhiên, một số nhà khoa học cho rằng, trong hoạt động nghiên cứu KH và CN vẫn có những cá nhân lợi dụng để đề xuất đề tài vì lợi ích riêng, cũng không ít nơi buông lỏng quản lý, dẫn đến nhiều đề tài "bỏ ngăn kéo" thực sự không dùng được. Giám đốc Văn phòng các chương trình trọng điểm cấp nhà nước Nguyễn Thiện Thành cho rằng, một trong những đặc thù của KH và CN là hiệu quả luôn cần có thời gian. Một kết quả nghiên cứu dù có tốt đến mấy cũng sẽ "nằm im" nếu không có được ít nhất ba yếu tố: nhu cầu cấp thiết của sản xuất; năng lực tiếp thu của nhà sản xuất; sự say mê nghiên cứu, khả năng sáng tạo của các nhà khoa học, nhà công nghệ. Thời gian để hội tụ được các yếu tố nói trên rất khó xác định, có thể là một vài năm, thậm chí lâu hơn, điều này dễ khiến xã hội hiểu rằng kết quả nghiên cứu không hiệu quả, bị "đắp chiếu". Nguyên Bộ trưởng KH và CN Nguyễn Quân cho rằng, thuật ngữ "bỏ ngăn kéo" đối với các đề tài khoa học nhiều khi bị hiểu theo nghĩa tiêu cực. Thực tế, đề tài "bỏ ngăn kéo" có ba loại: thứ nhất là, nghiên cứu không vì cuộc sống, nghiên cứu "cắt dán", sao chép hoặc gian dối; thứ hai là, nghiên cứu cơ bản phải đi trước làm tiền đề cho nghiên cứu ứng dụng; thứ ba, nghiên cứu ứng dụng nhưng phải chờ cơ hội đầu tư và thị trường để thương mại hóa. Những nghiên cứu ứng dụng nhưng phải chờ cơ hội đầu tư được coi là đã nghiên cứu đề tài thành công, nhưng nếu không có nhà đầu tư thì kết quả nghiên cứu cũng chỉ là ở trong phòng thí nghiệm.

Chậm ứng dụng các kết quả đề tài, dự án nghiên cứu KH và CN vào cuộc sống là một sự lãng phí. Ðể giải quyết các bất cập hiện nay, Bộ KH và CN tập trung tái rà soát, tái cơ cấu chuỗi nghiên cứu của KH và CN, nghiên cứu cơ bản. Gần đây, nhiều địa phương bỏ đề tài cấp cơ sở, tập trung vào những vấn đề trọng yếu nhất của tỉnh là một giải pháp hiệu quả để nâng cao tính khả thi của đề tài nghiên cứu. Bộ sẽ nâng vai trò của cơ quan quản lý với phương án hạn chế thấp nhất các rủi ro trong giao đề tài nghiên cứu, các bộ, ngành liên quan cần tháo gỡ các vướng mắc, làm cầu nối giữa nhà khoa học với doanh nghiệp.

Nhật Minh

Chia sẻ