Tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Thứ Bảy, 20/04/2019, 04:30:45

Nhằm khuyến khích cá nhân, doanh nghiệp thành lập và chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KH và CN), nhiều ưu đãi về thuế, tín dụng và các chính sách hỗ trợ khác đã được ban hành. Tuy nhiên đến nay, vẫn chưa nhận được sự quan tâm của phần lớn doanh nghiệp. Nguyên nhân được cho là các ưu đãi chưa thực tế, còn tồn tại nhiều quy định phức tạp gây khó khăn cho doanh nghiệp.

Tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Sản phẩm giám sát nông nghiệp thông minh của Công ty APPA Group, một doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.

Theo Chiến lược phát triển KH và CN giai đoạn 2011 - 2020 thì đến năm 2020 sẽ hình thành 5.000 doanh nghiệp KH và CN. Tuy nhiên, mục tiêu này sẽ khó thực hiện khi cả nước mới có khoảng hơn 2.000 doanh nghiệp có thể đáp ứng được các tiêu chí để được công nhận là doanh nghiệp KH và CN, nhưng lại không đăng ký. Lý giải nguyên nhân của thực trạng này, Thứ trưởng KH và CN Bùi Thế Duy cho rằng, có rất nhiều doanh nghiệp hiện nay đang hưởng các ưu đãi ở lĩnh vực khác với mức cao hơn, cho nên không đăng ký vào lĩnh vực KH và CN. Ngoài ra, doanh nghiệp cần được ưu đãi về đất đai, nhưng quỹ đất tại các khu công nghiệp, khu chế xuất còn hạn chế, cho nên quy định miễn tiền thuê đất khó áp dụng được. Đáng chú ý, ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp KH và CN khá khó khăn khi doanh nghiệp phải bảo đảm được mức tăng trưởng và doanh thu từ KH và CN...

Ý kiến từ các chuyên gia cho thấy, việc đăng ký chứng nhận là doanh nghiệp KH và CN còn tồn tại nhiều quy định phức tạp khi phải chứng minh quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp kết quả nghiên cứu KH và CN hay phải giải trình quá trình ươm tạo làm chủ công nghệ… Không phải doanh nghiệp nào cũng sẵn sàng chia sẻ bí quyết công nghệ. Ngay cả khi nhận được chứng nhận thì những doanh nghiệp KH và CN cũng gặp trở ngại về vốn khi khó tiếp cận được những hỗ trợ đầu tư từ phía Nhà nước vì phải trải qua nhiều thủ tục phức tạp, quá nhiều khâu trung gian cản trở hoặc đầu tư chưa tới ngưỡng. Phó Cục trưởng Phát triển thị trường KH và CN (Bộ KH và CN) Phạm Đức Nghiệm cho biết, việc chuyển đổi các doanh nghiệp trở thành doanh nghiệp KH và CN còn chậm so với kỳ vọng của Nhà nước còn do nhận thức của doanh nghiệp đối với công nghệ chưa cao. Nhiều doanh nghiệp chưa thật sự quan tâm tới việc đổi mới công nghệ, tập trung đầu tư cải tiến phương thức sản xuất mà chủ yếu là các doanh nghiệp thương mại. Ngoài ra, các chương trình ưu đãi đang triển khai cũng gặp một số rào cản thách thức từ phía cơ quan quản lý nhà nước, chưa có sự đồng bộ về các chính sách khiến một số doanh nghiệp chưa nhận được ưu đãi trong thực tế.

Lãnh đạo nhiều doanh nghiệp KH và CN cho rằng, khi được công nhận là doanh nghiệp KH và CN thì các cơ chế, chính sách hỗ trợ cần thực chất hơn như việc giao cho quyền sử dụng kết quả nghiên cứu của một đề tài cấp Nhà nước. Ngoài ra, việc giao quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp để sản xuất thì cần có cơ chế để doanh nghiệp được sử dụng để bảo đảm cho các khoản vay đầu tư sản xuất ra sản phẩm mới. Đối với các doanh nghiệp mới thành lập, thường không thể thỏa mãn các tiêu chí để có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trong đấu thầu dự án, do đó cần có cơ chế ưu tiên áp dụng vào sản xuất những công nghệ do người Việt Nam tạo ra thông qua doanh nghiệp KH và CN.

Để khuyến khích thành lập và chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp KH và CN, Bộ KH và CN đã xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định 13/2013/NĐ-CP (gọi tắt là NĐ 13) về doanh nghiệp KH và CN, có hiệu lực thi hành từ ngày 20-3-2019. NĐ 13 được kỳ vọng sẽ giải quyết được những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp KH và CN thời gian qua, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có hoạt động nghiên cứu thuộc mọi lĩnh vực phát triển theo mô hình doanh nghiệp KH và CN. Nghị định mới đã có nhiều sửa đổi, khắc phục những khó khăn của doanh nghiệp trong việc tiếp cận chính sách ưu đãi về thuế bảo đảm sự thống nhất đồng bộ với hệ thống các văn bản pháp luật chuyên ngành về thuế, có tính khả thi. Bên cạnh đó, NĐ 13 quy định cụ thể hơn về các ưu đãi tín dụng, ưu đãi đất đai dành cho doanh nghiệp KH và CN; bổ sung trách nhiệm của cơ quan chuyên môn về KH và CN địa phương trong việc hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện thủ tục miễn, giảm tiền thuê đất; bổ sung các hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu, thương mại hóa kết quả KH và CN của doanh nghiệp KH và CN. Đáng chú ý, trước đây, hầu như chưa có quy định về hỗ trợ thương mại hóa kết quả KH và CN của doanh nghiệp thì NĐ 13 đã bổ sung thêm nhiều hỗ trợ thương mại hóa kết quả như: được sử dụng quỹ phát triển KH và CN của doanh nghiệp và được hỗ trợ từ các chương trình hỗ trợ của Nhà nước để thực hiện dự án thương mại hóa, ưu tiên trong việc xác lập quyền sở hữu trí tuệ; trách nhiệm của bộ, ngành trong việc xây dựng quy chuẩn kỹ thuật để cấp phép lưu hành sản phẩm…

Lãnh đạo Bộ KH và CN cho rằng, NĐ 13 sẽ đơn giản hóa các điều kiện chứng nhận doanh nghiệp KH và CN, đồng thời sẽ thể chế hóa được định hướng của Chính phủ coi doanh nghiệp là trung tâm của đổi mới sáng tạo quốc gia. Qua đó, cơ chế hậu kiểm sẽ được thực thi, cho phép các doanh nghiệp đăng ký tự cam kết về quyền sở hữu và quyền sử dụng hợp pháp đối với những kết quả KH và CN để sớm được hưởng các ưu đãi và đẩy phần lớn trách nhiệm đánh giá, kiểm định về sau cho các cơ quan quản lý trực tiếp. Các điều kiện để hưởng ưu đãi thuế sẽ còn cần tối thiểu 30% doanh thu hằng năm từ việc sản xuất, kinh doanh sản phẩm hình thành từ kết quả KH và CN, so với điều kiện 70% được coi là phù hợp với thực tế… Tuy nhiên, để những quy định mới thật sự mang lại hiệu quả và có sức lan tỏa trong đời sống, các cơ quan quản lý cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, cùng các cơ chế, chính sách phù hợp. Như vậy, NĐ 13 mới tạo được những tác động vào thực tiễn như kỳ vọng.

NHẬT MINH