Lớp học góc sân đình

Thứ Năm, 07/12/2017, 22:15:07
 Font Size:     |        Print

Bao bọc quanh thành phố từ xa xưa vốn là những vùng đất thuần nông, ven rìa. Mỗi nơi lại có một nghề riêng, đặc sản nức tiếng gần xa. Người thành thị chỉ cần mua chiếc quạt nan, quạt giấy, chiếc lồng chim hay nho nhỏ như quả ớt, quả cà nén, gói dưa muối, cốm đầu nia... là biết ngay dân vùng quê nào.

Có khi nghe giọng nói cũng nhận ra, khó lẫn được. Khi thành phố mở mang, mỗi năm rộng rãi, vươn cao, làng quê mất dần bóng dáng xưa. Ký ức, kỷ niệm mờ nhạt dần. Tên làng còn đó, làng nghề còn đâu. Nhắc đến chỉ thêm nuối tiếc, xót xa, chạnh lòng...

Làn sóng đô thị hóa biến làng thành phố, thôn xóm thành phường. Đất nông nghiệp nhường chỗ cho công ty, doanh nghiệp, khu chung cư. Đất thổ cư cắt bán cho người tứ xứ. Nông dân bán bớt vườn tược hay một phần đất ông, cha để lại. Ngoảnh đi ngoảnh lại nhà tầng chen chúc mọc lên, mở cửa hàng thời trang, bán điện thoại, băng đĩa, làm tóc, mát-xa, ka-ra-ô-kê... Nhiều nhất là quán cà-phê, giải khát, cơm bình dân, phở bún... Cuối làng chỗ đất đầu thừa, đuôi thẹo là xóm trọ sinh viên, công nhân, gần sát chợ làng cổ truyền còn sót lại. Vào những ngày ba, năm, bảy âm lịch hằng tháng, chợ phiên vẫn họp.

Người từ mấy làng bên kéo sang, đi chợ cho đỡ nhớ chứ chẳng kĩu kịt gánh gồng như ngày xưa. Rau dưa, củ quả, khoai sắn hay lợn gà, cá tôm, cua ốc, còn đất đâu mà trồng, còn ruộng đâu mà bắt. Ngày trước mỗi nhà thường có một ao thả cá, bè rau muống, bèo nuôi lợn. Giờ lấp kín, xây cất nhà ba, bốn tầng. Đường làng, ngõ xóm đổ bê-tông khô cứng, bốc hơi nóng hầm hập. Khổ nhất là mùa mưa, nước trên trời đổ xuống, nước thải dâng lên không kịp thoát, ngập ngụa, bốc mùi.

Vì dở tỉnh, dở quê nên cống rãnh thoát nước chưa đâu vào đâu. Nhìn xuống rồi chợt ngước trông lên, sừng sững những ngôi nhà đủ kiểu dáng, chen vai nhau giành khoảng không chật chội. Bóng đổ xuống trùm kín, che lấp mái đình làng rêu phong mốc xanh, mái đền thờ thành hoàng, dăm ngôi nhà thờ họ còn sót lại. Trăm năm làng xưa mà nay cố giữ chỉ được chừng ấy. Bao nhiêu thứ mất đi có thể nhìn thấy, còn những gì khó nhận ra. Tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn, bán anh em xa mua láng giềng gần...

Nhưng, tiếc đứt ruột, nhức nhối nhất là mất nghề làng từng nuôi sống bao kiếp người. Bỗng chốc bỏ đi sao không khỏi hụt hẫng, chông chênh, chới với như chẳng còn chỗ bấu víu, nương tựa. Chỉ đến khi mất rồi mới thấy tiếc, thì đã muộn. May mà ở cuối làng vẫn có hai người cố giữ lấy nghề đan rổ rá, quạt nan lần hồi qua ngày...

Căn nhà nép sau mái đình cong cong dưới tán muỗm cổ thụ che rợp quá nửa sân gạch đỏ au. Ngày ngày, hai vợ chồng cặm cụi lo chuyện hương khói, quét tước, dọn dẹp. Xong việc, ông chẻ tre, bà vót nan, tước lạt dẻo tay như hồi hợp tác xã mây tre đan ngày nào. Sân đình ngổn ngang, bề bộn chẳng khác gì xưởng thủ công. Từng chồng rổ, chồng rá cao dần, phơi nắng hanh, xếp đầy mái hiên đình. Đến buổi chợ phiên, mỗi người một xe đạp lọc cọc chở ra góc đất ngay cạnh nơi người ta bán đồ nhôm, nhựa gia dụng. Ngỡ tưởng chẳng ai ngó ngàng, ấy vậy mà nhiều người xúm vào mua rổ, rá, mẹt, quạt nan. Chưa tàn phiên chợ đã bán gần hết hàng. Tiền nong chỉ là một chuyện, hai vợ chồng hồ hởi nhìn nhau. Mình làm ra vẫn có người mua về dùng, thế là nghề làng không thể mất được. Vui hơn nữa, cạnh đình có hai lớp học, cô giáo thường dẫn học sinh sang sân chơi đùa.

Thoạt đầu chỉ xem ông bà đan lát. Rồi sau, cô giáo nói với ông, mỗi ngày dành thời gian dạy trẻ học cách đan từ quạt nan đến rổ, rá, coi như thay giờ học thủ công ở lớp. Từ hai tháng nay, ông đã trở thành người thầy, có mấy chục học trò để dạy nghề. Mai sau chắc chẳng có đứa nào theo nghề này, nhưng chúng biết quý trọng cái nghề của ông cha để lại, còn mong gì hơn.

Nhã Khanh