Những sáng kiến triệu đô

Thứ Bảy, 26/05/2018, 14:34:15
 Font Size:     |        Print
 

Nhà máy lọc dầu Dung Quất.

Giải pháp “Nâng cao độ tin cậy và tối ưu hóa vận hành trạm giảm ôn giảm áp trong Nhà máy Lọc dầu Dung Quất” của kỹ sư Nguyễn Ngọc Thanh và đồng sự vừa đạt giải ba Hội thi Sáng tạo kỹ thuật toàn quốc lần thứ 14 một lần nữa ghi dấu ấn về năng lực làm chủ khoa học, công nghệ của Công ty TNHH Một thành viên Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR). Môi trường làm việc chuyên nghiệp, minh bạch đã chắp cánh cho những khát vọng sáng tạo bay xa, góp phần vận hành nhà máy lọc dầu (NMLD) Dung Quất an toàn, ổn định, làm lợi cho Nhà nước hàng triệu USD.

Ngay từ buổi đầu, lãnh đạo BSR chủ trương đào tạo đội ngũ “hạt giống đỏ” vừa chuyên sâu vừa đa năng, mạnh dạn thử thách giao việc khó. Tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành công nghệ hữu cơ - hóa dầu loại giỏi, Nguyễn Ngọc Thanh được Ban Quản lý dự án NMLD Dung Quất cử đi đào tạo nâng cao hai năm, tham gia giám sát xây dựng và chạy thử nhà máy rồi về Ban Vận hành sản xuất và làm việc ở vị trí giám sát vận hành đến nay. “Vạn sự khởi đầu nan”, nhưng bằng tâm huyết và nghị lực giúp anh quyết tâm vượt qua. Môi trường va chạm thực tế đã tôi rèn kinh nghiệm và bản lĩnh đương đầu khó khăn, áp lực ngay cả trong tình huống nước sôi lửa bỏng. Và đôi khi trong cái khó lại ló cái khôn.

Trạm giảm ôn giảm áp HHP/HP (siêu cao áp, cao áp) được thiết kế bao gồm ba van điều khiển, thực tế vận hành lượng hơi cao áp sản xuất ra từ trạm cao hơn nhiều so với giá trị thiết kế ban đầu. Nếu vận hành theo thiết kế thì van 040-PV-012A mở 100%, van 040-PV-012B mở gần 100% và chỉ đặt được một trong hai van ở chế độ tự động, van còn lại cùng với van 040-PV-051 phải ở chế độ điều chỉnh bằng tay mới đủ lượng hơi cao áp để sử dụng. Trường hợp mạng hơi cao áp biến động, việc thao tác bằng tay đòi hỏi nhanh, kịp thời và điều chỉnh nhịp nhàng, nếu không sẽ làm cho áp mạng hơi cao áp giảm nhanh gây dừng máy nén MAB và dừng phân xưởng cracking xúc tác tầng sôi ảnh hưởng đến toàn nhà máy, thiệt hại kinh tế rất lớn.

Bằng kinh nghiệm vận hành, giám sát, tính toán từ thực tế, kỹ sư Nguyễn Ngọc Thanh cùng các cộng sự tính toán thiết kế lại phương thức điều khiển cho trạm giảm ôn giảm áp HHP/HP bảo đảm ba van điều khiển nói trên đều vận hành ở chế độ tự động và đưa ra các giải pháp vận hành để nguồn hơi trung áp được trích ra hoàn toàn từ các máy phát điện tuốc bin, đóng hoàn toàn trạm giảm ôn giảm áp HP/MP. Từ tháng 7-2016, giải pháp áp dụng thành công mang lại lợi ích khoảng 12,5 tỷ/năm góp phần vận hành nhà máy an toàn ổn định. Điểm nổi bật là giải pháp này có thể áp dụng cho các NMLD khác sẽ được xây dựng, các nhà máy công nghiệp có sử dụng hệ thống giảm ôn giảm áp để sản xuất các loại hơi.

Mọi người vẫn trìu mến gọi Thanh là giám sát vận hành mát tay bởi anh bắt nhịp nhanh, điều phối nhịp nhàng, xử lý thấu đáo nhiều tình huống. Thanh chia sẻ, mình chẳng khác “quản ca” tại phòng Điều khiển Trung tâm, đảm nhiệm nhiều công việc chính, từ theo dõi giám sát các thông số vận hành hằng ngày, thông tin từ ca kíp đang vận hành; phân tích và đưa ra phương án xử lý tối ưu hóa nhất các thông số bất thường nhằm bảo đảm cụm phân xưởng hoạt động an toàn, hiệu quả.

Vận dụng kiến thức được đào tạo, lăn lộn hiện trường cùng đam mê nghiên cứu, sáng tạo, Thanh còn thường xuyên biên soạn hướng dẫn/quy trình vận hành, quy trình xử lý sự cố, đào tạo cho nhân viên vận hành an toàn, tuyệt đối không chủ quan, khinh suất. Với sức sáng tạo không ngừng nghỉ, suy nghĩ và hành động táo bạo, anh và đồng nghiệp có sáng kiến “Tối ưu hóa sử dụng khí nhiên liệu (KNL) khi lượng KNL sinh ra từ các phân xưởng công nghệ tăng cao”, áp dụng thành công mang lại lợi nhuận cho BSR khoảng 17,4 triệu USD/năm. Để cung cấp hơi chạy ba máy phát điện và phục vụ các phân xưởng trong nhà máy, phân xưởng U40 vận hành hai lò hơi sử dụng dầu nhiên liệu (DNL) và một lò sử dụng KNL. Tổng lượng KNL sinh ra từ các phân xưởng công nghệ tăng cao do thành phần dầu thô thay đổi, dầu thô chứa nhiều hàm lượng kim loại vanady, niken, sắt... gây ngộ độc xúc tác, thúc đẩy các phản ứng cracking sâu; một số phân xưởng công nghệ thay đổi công suất khiến lượng KNL thừa xả ra đuốc đốt của nhà máy, làm tổn thất năng lượng rất lớn. Phương án vận hành hai lò hơi bằng KNL và một lò hơi bằng DNL khắc phục được hạn chế, tối ưu lượng KNL, giảm lượng DNL. Nhóm cũng kiểm soát bảo đảm các lò hơi vận hành ổn định khi mạng KNL bị dao động.

Là Quản đốc khu vực 1 gồm sáu phân xưởng, công việc bận rộn nhưng kỹ sư Đào Xuân Giỏi vẫn dốc hết tâm sức sáng kiến cải tiến kỹ thuật nhằm tối ưu hóa vận hành sản xuất, tiết kiệm nhiên liệu và bảo vệ môi trường. Kiến thức từ các khóa học chuyên sâu trong và ngoài nước cùng kinh nghiệm thực tiễn, niềm đam mê khoa học là nền tảng giúp anh sáng tạo. Khi NMLD Dung Quất vào giai đoạn hoàn thiện, phụ trách công tác chạy thử của cụm phân xưởng CDU-KTU-FG, anh dày công tìm hiểu soạn thảo quy trình và đào tạo nhân viên vận hành. Bản thân được trao nhiều cơ hội khẳng định năng lực nên Giỏi đặt niềm tin, truyền ngọn lửa đam mê, nhiệt huyết vào lớp trẻ. Được kèm cặp, kịp thời bổ khuyết, nâng cao trình độ chuyên môn, cọ xát thực tế nên anh em càng vỡ vạc, nhanh tiến bộ.

Lợi nhuận thu được hàng năm từ đề tài “Nghiên cứu giải pháp giảm nhiệt độ tường lò, giảm nhiệt độ khí thải và tiết kiệm nhiên liệu cho lò gia nhiệt H-1101 tại phân xưởng Chưng cất dầu thô” lên tới 8,23 triệu USD (tương đương 165 tỷ đồng), với chi phí đầu tư để tăng độ tin cậy trong quá trình làm việc là 57.135 USD. Điều kiện làm việc bình thường của lò gia nhiệt tại phân xưởng CDU theo thiết kế ban đầu ở 100% công suất với nhiệt độ tường lò là 815oC max; nhiệt độ khí thải là 278oC max, tuy nhiên khi vận hành thương mại, nhiệt độ này luôn cao hơn làm lãng phí nhiên liệu, gây quá tải, hư hỏng các lớp cách nhiệt, giá treo ống... trong lò đốt. Kỹ sư Giỏi và đồng nghiệp đã đưa ra tám giải pháp khắc phục, góp phần tăng tính ổn định, tuổi thọ của lò gia nhiệt H-1101, tạo điều kiện rất thuận lợi để nhà máy tăng công suất chế biến lên 110%.

Sau nhiều ngày đêm tìm tòi, trăn trở, “giải pháp xử lý vấn đề nước cuốn theo từ thiết bị tách muối Desalter đến lò gia nhiệt H-1101 tại Phân xưởng CDU” ứng dụng thành công, đem lại hiệu quả kinh tế cho NMLD Dung Quất 37,4 tỷ đồng, với chi phí đầu tư để tăng độ tin cậy cho quá trình làm việc của hệ thống Desalter chỉ 646 triệu đồng. Anh Giỏi cũng là đồng tác giả của sáng kiến “Loại bỏ tạp chất kim loại sắt và canxi trong nguyên liệu của phân xưởng Cracking xúc tác”, đem lại hiệu quả kinh tế 6,2 triệu USD/năm.

Làm chủ và lĩnh hội, chuyển giao được công nghệ hiện đại trong ngành lọc hóa dầu luôn là bài toán thách thức. Các sáng kiến cải tiến khẳng định sự trưởng thành và nắm bắt khoa học công nghệ của các thế hệ kỹ sư, công nhân BSR giỏi nghề, tận tụy lăn xả trong một môi trường luôn khuyến khích đam mê sáng tạo, nghiên cứu ứng dụng. Anh em ham học hỏi, tìm tòi, nhanh nhạy nắm bắt công nghệ, lại được khen thưởng, động viên kịp thời nên khí thế thi đua sôi nổi, hào hứng. Họ được tạo điều kiện tối đa từ khi đề xuất ý tưởng, lãnh đạo thường xuyên nghe báo cáo tiến độ, tranh luận để làm sáng tỏ tận cùng vấn đề. Gặp “ca khó” mà thành công, càng thêm hứng thú. Các kỹ sư trưởng thành ngoạn mục, tự tin chủ động tác nghiệp, dần thay thế “chất xám” ngoại, đến nay chỉ cần thuê 1/10 chuyên gia tư vấn vận hành và bảo dưỡng từ nước ngoài. Năm 2017, BSR thực hiện thành công 11 giải pháp tối ưu hóa năng lượng, hiệu quả kinh tế mang lại của các giải pháp vận hành đã được thực hiện thành công khoảng 3,2 triệu USD/năm. Năm 2018, BSR tiếp tục tập trung 16 cơ hội tối ưu hóa năng lượng, trong đó 12 giải pháp đã triển khai thực hiện. Các giải pháp tiết giảm chi phí vận hành, bảo dưỡng, đa dạng hóa sản phẩm và tìm kiếm cơ hội nâng cao lợi nhuận chế biến của Nhà máy cũng được tăng cường áp dụng.

Phía sau thành quả to lớn ấy là cống hiến thầm lặng của những con người tài trí, giàu bản lĩnh và khát khao sáng tạo, luôn gắn bó với nhà máy như mái ấm thân yêu thứ hai của mình.

10 năm qua, BSR có hơn 163 sáng kiến, làm lợi cho Nhà nước 138 triệu USD. BSR đã thực hiện 33 đề tài, nghiên cứu khoa học và phần lớn trong số đó đã được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Tính từ khi vận hành NMLD Dung Quất đến hết năm 2017, sản lượng sản xuất là 50.335 nghìn tấn, chiếm tỷ lệ 40% nhu cầu xăng dầu trong cả nước; Tổng doanh thu đạt 881,18 nghìn tỷ đồng, nộp Ngân sách Nhà nước 145,52 nghìn tỷ đồng.

ÐỨC TUẤN

Chia sẻ