Trong thách thức có cơ hội phát triển

Thứ Năm, 26/04/2018, 23:02:44
 Font Size:     |        Print
 

Các doanh nghiệp trong nước cần chủ động tự thay đổi, tận dụng lợi thế để giành thị phần bán lẻ. Ảnh | Huy Hùng

Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) trong vòng 11 năm. Trước đó, Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ kinh tế thương mại với Hoa Kỳ, một trong những đối tác thương mại hàng đầu, vào năm 2001. Việt Nam cũng đã gia nhập Hiệp hội các Quốc gia Đông - Nam Á vào năm 1995, đánh dấu sự khởi đầu bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Một nguyên tắc cơ bản trong quan hệ kinh tế thương mại thế giới là nguyên tắc có đi có lại.

Hơn 20 năm trên con đường xây dựng một nền kinh tế mở theo định hướng thị trường, Việt Nam đã thành công trong việc đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu nhờ có cơ hội tiếp cận người tiêu dùng nước ngoài.

Đổi li, Vit Nam cũng phi m ca th trường ca mình để hàng hóa nước ngoài tiếp cn người tiêu dùng Vit Nam. Trong xu thế tt yếu này, xét v thế ca Vit Nam trên bàn đàm phán, và tương quan mc độ m ca trong các ngành dch v khác, có th ghi nhn rng Vit Nam đã hết sc n lc để đạt được nhng bước m ca rt thn trng đối vi dch v phân phi và bán l. Điu này không đơn thun là Vit Nam đã m toang cánh ca đối vi dch v phân phi và bán l.

Trước hết, cần nhấn mạnh rằng Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định tự do thương mại hàng hóa và dịch vụ với các đối tác thương mại kể từ sau khi trở thành thành viên WTO. Điều này đồng nghĩa với sự gia tăng mức độ mở cửa thị trường. Mặc dù vậy, mức độ mở cửa đối với dịch vụ phân phối vẫn cơ bản giữ nguyên khung cam kết trong WTO, cụ thể như: Nhà đầu tư nước ngoài không được phép thực hiện bán buôn hay bán lẻ một số mặt hàng cụ thể như thuốc lá, sách báo, vật phẩm ghi hình, kim loại quý, đá quý, dược phẩm, đường. Việc nhà đầu tư nước ngoài thành lập cơ sở bán lẻ thứ hai trở đi sẽ phải phụ thuộc vào việc kiểm tra nhu cầu kinh tế (Economic Needs Test hay còn gọi là ENT). Do đó, nhà phân phối nước ngoài chỉ được phép mở thêm cửa hàng tại một khu vực nhất định nếu nhu cầu tiêu dùng thực tế của khu vực đó chưa được đáp ứng đủ. Điều này đồng nghĩa với việc hạn chế khả năng mở rộng chuỗi phân phối của các nhà phân phối và bán lẻ nước ngoài. Đây được đánh giá là một bước cản lớn do yếu tố chuỗi cửa hàng liên kết và khoảng cách địa lý được coi là những yếu tố chính quyết định năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực phân phối. Bản thân nhà đầu tư nước ngoài luôn phàn nàn về thủ tục cấp phép và các bước kiểm tra nhu cầu kinh tế, mà các doanh nghiệp Việt Nam không phải trải qua trên thực tế. Mặt khác, để có thể thực hiện hoạt động phân phối và bán lẻ tại Việt Nam, các đơn vị phân phối nước ngoài còn bị ràng buộc bởi các thủ tục hành chính cấp phép phức tạp.

Thêm vào đó, với việc sửa đổi khung pháp lý hoạt động phân phối gần đây, mức độ bảo vệ doanh nghiệp trong nước còn được gia tăng nhiều hơn thông qua việc mở rộng diện cửa hàng chịu ràng buộc bởi quy định kiểm tra nhu cầu kinh tế, cũng như áp dụng nhiều tầng giấy phép hoạt động hơn so với trước đây.

Rõ ràng, với những hạn chế như trên, những lợi thế của nhà đầu tư nước ngoài đã phần nào được cân bằng lại, để bảo đảm một mức độ cạnh tranh hài hòa cho các doanh nghiệp Việt Nam. Về phần mình, các doanh nghiệp nội địa cũng có nhiều lợi thế mà các đơn vị phân phối và bán lẻ nước ngoài không có được. Một trong nhiều lợi thế đó là khả năng am hiểu địa phương, am hiểu văn hóa thị hiếu và thói quen tiêu dùng (kể cả những thị hiếu và thói quen theo vùng, miền). Ngoài ra, trong khi các doanh nghiệp phân phối và bán lẻ nước ngoài chịu sự ràng buộc chặt chẽ về tính tuân thủ, các quy ước nghiêm khắc về tuân thủ, chống hối lộ, thực tế cho thấy, doanh nghiệp nội địa hoạt động thường “linh hoạt” hơn.

Sự rút lui gần đây của một số nhà đầu tư nước ngoài đã phần nào minh chứng rằng họ không phải luôn ở “cửa trên” so với các doanh nghiệp nội địa trong cuộc chiến giành thị phần.

Vì vậy, thay vì tự mình phụ thuộc một cách thụ động vào khả năng bảo hộ từ phía Nhà nước, các doanh nghiệp nội địa cần ý thức rõ những lợi thế của mình, tăng cường tìm hiểu và phân tích những ưu, nhược điểm từ các mô hình kinh doanh của đối tác nước ngoài, từ đó rút ra những bài học cho mình, để từng bước khẳng định vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trên chính thị trường của mình. Ngoài ra, thay vì chùn bước một cách “hiệu ứng tâm lý chung”, các doanh nghiệp nội địa cần ngay lập tức có các biện pháp kiểm soát chất lượng sản phẩm, phát triển thương hiệu bền vững, áp dụng công nghệ bán hàng, và đặc biệt là có các chế độ hậu mãi tốt cho chính các sản phẩm của mình. Ở đây, khi đã chấp nhận cuộc chơi, chúng ta không thể trông chờ vào Nhà nước với các rào cản kỹ thuật pháp lý, mà bản thân phải tự thay đổi, đương đầu với thách thức, vì trong thách thức luôn có cơ hội phát triển. Ngay cả việc chấp nhận sự tham gia của các đối tác nước ngoài cũng chính là cơ hội cho doanh nghiệp nội địa học hỏi, tiếp cận cách thức quản lý, mô hình phân phối và bán lẻ của các doanh nghiệp phân phối và bán lẻ nước ngoài. Điều quan trọng hơn nữa, các doanh nghiệp nội địa cần tiến hành đào tạo nhân viên trong lĩnh vực phân phối và bán lẻ, thậm chí cân nhắc thuê chuyên gia nước ngoài để tiến hành đào tạo. Bản thân chất lượng dịch vụ và thái độ nhân viên, trình độ nghiệp vụ và các kỹ năng mềm của nhân viên trong lĩnh vực phân phối bán lẻ là điều kiện tiên quyết của sự thành công.

Trần Mạnh Hùng
Luật sư Điều hành, Công ty Luật BMVN, thành viên Baker McKenzie

Chia sẻ