Bước tiến nhỏ

Thứ Hai, 28/08/2017, 18:00:37
 Font Size:     |        Print
 

Bãi cạn Scaborough - nơi tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines nhiều năm qua.Ảnh trong bài | Nguồn báo nước ngoài

Cuối cùng thì sau bao chờ đợi, các nước ASEAN và Trung Quốc cũng đã chính thức thông qua dự thảo khung Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC). Như vậy là phải sau 15 năm, kể từ khi giữa ASEAN và Trung Quốc thông qua được Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và mất tới gần bốn năm đàm phán, một bộ khung COC mới dần hình thành. Một quãng thời gian quá dài cho một thỏa thuận lẽ ra cần phải ra đời sớm hơn rất nhiều nhằm góp phần duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực.

Vậy việc thông qua được dự thảo khung COC có phải là một bước đột phá thật sự giữa ASEAN với Trung Quốc để giải quyết những khúc mắc trên Biển Đông hay không?

Câu trả lời có lẽ tùy thuộc vào góc nhìn của mỗi người!

Bước tiến DOC

Tháng 7-1991, tiến trình đối thoại Trung Quốc - ASEAN bắt đầu khi Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc khi ấy là Tiền Kỳ Tham tham dự Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 24 và các hội nghị liên quan. Đến năm 1996 thì Trung Quốc trở thành đối tác toàn diện của ASEAN.

Những tranh chấp trên Biển Đông giữa một số quốc gia thành viên ASEAN với Trung Quốc đã dẫn tới việc ngày 4-11-2002, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 8 diễn ra ở thủ đô Phnom Penh của Campuchia, giữa ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC).

Ngay ở điều 1 của DOC, các bên tham gia ký kết đã tái khẳng định cam kết “đối với các mục tiêu và các nguyên tắc của Hiến chương LHQ, Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).

Đến điều 5 của DOC tiếp tục khẳng định lại rằng các bên chịu trách nhiệm thực hiện sự tự chế trong việc thi hành các hoạt động có thể gây phức tạp hoặc leo thang tranh chấp, ảnh hưởng tới hòa bình và sự ổn định, kiềm chế không tiến hành đưa người đến sinh sống trên những hòn đảo hiện không có người sinh sống, trên các rặng đá ngầm, bãi cát ngầm, đảo nhỏ và những yếu tố khác và phải được xử lý những khác biệt của mình bằng phương pháp có tính xây dựng.

Nếu tuân thủ theo đúng những nguyên tắc này thì hẳn DOC đã thật sự được coi là một bước đột phá trong quan hệ giữa ASEAN với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông. Tuy nhiên, DOC là một văn bản không có tính ràng buộc về mặt pháp lý! Cũng có nghĩa là một trong các bên ký kết có thể không thực hiện theo đúng các điều khoản của DOC. Chính vì nhận thức được nguy cơ này nên DOC đã phải “thòng” thêm một nội dung ở điều 10, rằng “các bên liên quan khẳng định rằng việc tiếp thu một bộ Quy tắc về ứng xử trên Biển Đông (COC) sẽ thúc đẩy mạnh mẽ hơn hòa bình và ổn định trong khu vực và nhất trí làm việc trên căn bản đồng thuận để tiến tới hoàn thành mục tiêu này”.

Quá trình để đạt được “đồng thuận” (bước đầu, ở dạng “khung”) này kéo dài 15 năm.

Thời gian dài cho một “sự đã rồi”

Trong 15 năm ấy, Trung Quốc, một bên ký DOC, đã kịp xây dựng bảy hòn đảo nhân tạo trên Biển Đông, bước đầu triển khai các hệ thống phòng thủ cũng như trang thiết bị quân sự trên những hòn đảo nhân tạo này.

Đó là sự phối hợp của hàng loạt chiến thuật rắc rối, tinh vi, từ “cắt lớp salami” (lấn từng bước một), hành động “dưới ngưỡng” (để không xảy ra xung đột hoặc đụng độ quân sự lớn với các cường quốc bên ngoài hay với các bên đang có tranh chấp) cho đến “ngoại giao nhân dân tệ” (dùng sự hỗ trợ kinh tế làm đòn bẩy) hay gây sức ép bằng “ngoại giao giàn khoan”, tàu hải giám...

Tất cả những chiến thuật “talk and take” (vừa đàm vừa lấn) này diễn ra trong suốt quá trình đàm phán gay go kéo dài gần bốn năm để có được một “khung” COC! Trong thời gian đó, Trung Quốc tiếp tục quá trình xây cất và quân sự hóa trên một số thực thể nhân tạo ở Biển Đông, đồng thời vẫn tham dự hàng loạt cuộc trao đổi ngoại giao mà không có cam kết rõ ràng với bất kỳ quy tắc nào. Mục tiêu cơ bản là nhằm đưa tình thế Biển Đông vào sự đã rồi.

Cần nhớ rằng giữa ASEAN và Trung Quốc chỉ đạt được DOC vào năm 2002 sau khi Trung Quốc đã có được thực thể Đá Vành khăn vào năm 1995. Thỏa thuận khung COC mà các Bộ trưởng Ngoại giao các nước ASEAN và Trung Quốc đạt được lần này cũng có được sau khi Trung Quốc đã cơ bản hoàn thành việc xây đắp và bước đầu quá trình quân sự hóa một số đảo nhân tạo trên Biển Đông.

Rõ ràng những hành động đơn phương bồi đắp, cải tạo đất và quân sự hóa đảo nhân tạo này không chỉ vi phạm thỏa thuận DOC, vi phạm UNCLOS 1982 (các bên đã ký) mà còn làm xói mòn lòng tin, ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải và hàng không ở Biển Đông. Việc sớm có một bộ quy tắc COC hiệu quả là đòi hỏi cấp thiết. Một COC thực chất, có ràng buộc pháp lý để có thể kiểm soát được cách ứng xử của các bên trên Biển Đông là điều kiện tiên quyết để giải quyết những tranh chấp ở đây bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982.

Quan trọng là COC thực chất, có tính ràng buộc pháp lý

Sau khi cùng các ngoại trưởng ASEAN thông qua dự thảo khung COC, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị nói với báo giới rằng sự thống nhất giữa các bên về dự thảo khung COC đã đặt nền tảng vững chắc cho các cuộc tham vấn thực chất về thỏa thuận này.

Tuy nhiên, ngoại trưởng Trung Quốc lại đề xuất một “tầm nhìn ba bước” với mục tiêu mà theo ông Vương Nghị thì nó sẽ “đẩy mạnh các cuộc tham vấn về COC”. Trong ba bước này, đặc biệt đáng lưu ý là bước thứ ba, gần như là một điều kiện, rằng “nếu không có sự can thiệp bên ngoài nghiêm trọng nào và tình hình Biển Đông nói chung ổn định” thì lãnh đạo Trung Quốc và ASEAN sẽ chính thức thông báo việc khởi động bước tiếp theo để tiến hành thương thảo về văn kiện COC.

Có thể thấy gì qua “điều kiện” này của phía Trung Quốc?

Nó cho thấy rằng lộ trình để từ một dự thảo khung COC tiến tới một COC thực chất, chịu sự ràng buộc về pháp lý giữa ASEAN và Trung Quốc, sẽ không hề đơn giản. Bởi ai cũng hiểu “sự can thiệp bên ngoài” ở đây là gì! Một thuật ngữ mơ hồ như vậy không nên là điều kiện tiên quyết cho bất cứ một tiến trình đàm phán nào về COC. DOC vốn là một thỏa thuận không có tính ràng buộc và không nên thay thế một thỏa thuận mơ hồ này bằng một thỏa thuận mơ hồ khác.

Sau một thời gian đàm phán rất dài với không ít trắc trở, cùng không ít những sự cố để đưa tình hình Biển Đông vào “thế đã rồi” thì cần phải nhanh chóng tiến tới một thỏa thuận COC thực chất và hiệu quả. Điều đó chỉ có thể đạt được nếu COC có tính ràng buộc về pháp lý, có cơ chế để giải quyết những tranh chấp. Càng không nên để quá trình đàm phán tiến tới COC bị sử dụng như một thủ thuật “câu giờ” để hoàn thành mục tiêu khống chế Biển Đông đã được hỗ trợ bởi các hoạt động vốn từng bị chỉ trích bấy lâu nay.

Như vậy, thỏa thuận khung COC mới chỉ là văn bản mở đầu chứ không phải là kết thúc cho quá trình đàm phán thực chất COC. Nó chỉ phác thảo một bộ quy tắc hướng dẫn thảo luận các chi tiết của COC giữa ASEAN và Trung Quốc trong thời gian tới. Trong quá trình thảo luận đó, tài sản quý báu nhất của ASEAN là tinh thần đoàn kết. Sự đồng thuận từng làm nên sức mạnh cũng như bảo đảm quyền độc lập tự chủ của các thành viên ASEAN, cần và phải được chuyển hóa thành quyết tâm trên bàn đàm phán. Vai trò trung tâm của ASEAN trong giải quyết các vấn đề liên quan đến an ninh khu vực cũng sẽ được thể hiện trong quá trình tìm kiếm một COC thực chất để thay thế cho DOC, nhằm bảo đảm xây dựng một môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực.

Dù sao thì thỏa thuận khung về COC được thông qua ở Manila cũng là một bước tiến về phía trước trong quan hệ giữa ASEAN với Trung Quốc liên quan đến vấn đề Biển Đông, bất chấp những khác biệt. Dẫu mới là một bước tiến nhỏ trên lộ trình tìm kiếm một COC có khả năng thực thi và hiệu quả nhưng thỏa thuận này đặt cơ sở cho những thảo luận tiếp theo ở Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Trung Quốc sẽ diễn ra tháng 11 tới, cũng tại Manila.

Nền móng đã có, vấn đề bây giờ là phải nhanh chóng khởi động những cuộc đàm phán mang tính thực chất, chứ không phải là những thủ thuật ngoại giao để hợp pháp hóa những sai trái trên thực địa.

Nó cho thấy rằng lộ trình để từ một dự thảo khung COC tiến tới một COC thực chất, chịu sự ràng buộc về pháp lý giữa ASEAN và Trung Quốc, sẽ không hề đơn giản.

YÊN BA

Chia sẻ