Một nét văn hóa công nghệ

Thứ Sáu, 29/09/2017, 11:33:00
 Font Size:     |        Print
 

Minh họa : Lê Trí Dũng

Thường thì sự tiến triển của văn minh nhân loại, luôn có một ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của mọi quốc gia. Và trong sự tiến triển chung đấy thì những thành tựu từ những cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, đặc biệt là việc nâng cao công nghệ sản xuất, luôn giữ một vị trí cực kỳ quan trọng. Thế nhưng máy móc có hiện đại tối tân đến mấy cũng sẽ là vô ích, nếu tư duy của con người không nhịp nhàng tương thích. Có phải vậy chăng mà ở buổi ban sơ của tất cả những cuộc cách mạng công nghiệp, không phải ai cũng nhìn nhận được đúng vai trò của nó. Thí dụ nổi tiếng nhất là trường hợp của hoàng đế Napoleon Bonaparte (1769-1821). Ông này là một thiên tài về nhiều mặt, thành danh như là một chính trị gia và như là một nhà quân sự kiệt xuất của nước Pháp. Ở tầm nhìn chiến lược của một người lãnh đạo đất nước, ông đánh giá rất cao công việc của các khoa học gia. Theo một giai thoại có thật thì trong chiến dịch chinh phục Ai Cập, Napoleon đã ra một mệnh lệnh khét tiếng "lừa ngựa và các nhà bác học đi vào giữa". Nhưng cũng chính ông ta, đã từ chối bản thiết kế tàu thủy chạy bằng hơi nước của Robert Fulton, một phát minh vĩ đại trong cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên. "Gì, thưa ngài. Ngài sẽ làm một con tàu đi ngược chiều gió và hoạt động bằng một đống lửa được đốt dưới boong. Xin ngài tha lỗi, tôi không có thời gian để nghe điều vô nghĩa như vậy". Hệ lụy nhãn tiền thấy ngay chỉ chừng hơn chục năm sau. Trên đường bị đi đày tới đảo Saint Helena, khi thấy một tàu thủy chạy bằng hơi nước băng băng vượt sóng, Napoleon cúi đầu thở dài. Ông ta đã tự sâu sắc biết rằng, cái nước Pháp hùng mạnh của ông đã manh nha thất bại ngay từ lúc ông chối bỏ cái cơ hội bằng vàng, mà nó chỉ đến từ một cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật.

Bài học lịch sử này cho tới hôm nay vẫn còn nguyên giá trị, nhất là khi cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang bắt đầu khởi động. Đương nhiên, để có được nó nhân loại đã trải qua một đoạn đường dài đầy vất vả. Klaus Schwab, người sáng lập và chủ tịch diễn đàn kinh tế thế giới từng đơn giản giải thích: "Cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước để cơ giới hóa sản xuất. Cuộc cách mạng lần hai diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt. Còn lần ba là sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa. "4.0" ở lần này chính là sự kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học". Và ông khẳng định, với chiều rộng và chiều sâu của "bốn chấm không", toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý cũng như quản trị sẽ có thay đổi cơ bản. Vậy chúng ta sẽ đón chờ ‘bốn chấm không" như thế nào.

Hiển nhiên với những chính sách về kinh tế cởi mở, khoảng hơn hai thập niên gần đây, nước ta luôn đồng hành cùng nhịp phát triển chung của thế giới. Cuộc cách mạng mạng tin học đem lại cho các đô thị Việt một diện mạo mới. Có điều, lịch sử dựng tạo các thành phố ở ta đều chưa dài, đang "nửa quê nửa tỉnh" nên vô số thói quen tiểu nông vẫn bám bùn cặn đọng trong từng gia đình, từng công sở. Đa phần những công chức vẫn chỉ lặt vặt a dua chạy theo công nghệ kỹ thuật số. Còn gì an ủi bằng những lúc "từng người tình bỏ ta đi" thì trong cô đơn ta vẫn thanh thản giết buồn bằng ngồi chơi game trên ipad, nghe nhạc Trịnh qua smartphone. Các quý ông công sở đã ra vẻ tinh tế hơn khi tự viết những entry khoe mình trên internet, những quý bà ở phố đã ra vẻ đoan trang hơn khi "buôn dưa lê" qua facebook. Cuộc cách mạng tin học vĩ đại đã làm khuây khỏa rất nhiều những sinh hoạt thị dân thường nhật tẻ nhạt. Có thể nói nhờ nó mà khá đông những mối tình nồng nàn cảm động đã xuất hiện. Và không ít những mối tình đó dẫn tới những cuộc hôn nhân bi tráng. Thậm chí, nếu phải "mục kích sở thị" ở một vài đám hiếu bây giờ mới thấy hết những tiến bộ ứng dụng kỹ thuật. Phường bát âm dân tộc với nhị với kèn với trống, lích kích quá, bỏ đi. Thay vào đó là một điện thoại thông minh gọn nhẹ với biết bao giai điệu thảm thiết buồn bã lâm khốc. Kinh hoàng nhất là nó lại còn tiện lợi khi vang đủ loại tiếng khóc qua loa thùng. Nếu chỉ đi ngang vô tình nghe, cứ ngỡ con cháu đang vật vã mình mẩy tiếc thương các cụ. Tò mò nhìn vào, thấy cả đám đang ung dung hớn hở chơi bài. Công nghệ văn minh như thế, đương nhiên sẽ có một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên hâm mộ phát cuồng. Không phải ngẫu nhiên mà giờ đây để hóa vàng cho người thân đã khuất, nhiều người dư tiền còn đốt cả đống hàng mã làm giống hệt smart - tivi hay điện thoại cầm tay siêu cảm ứng.

Công nghệ cao có thể một sớm một chiều làm thay đổi cả nền kinh tế, nhưng ở phương diện văn hóa thì điều ấy chưa chắc. Có thể minh họa bằng chuyện ô-tô ở ta, vì xe hơi là thành tựu đáng tự hào của công nghệ đỉnh cao. Cách đây chưa lâu, đã có một câu trắc nghiệm bị coi là viển vông. Liệu đến bao giờ thì một gia đình trung lưu người Việt thế lực bình thường sẽ sở hữu một chiếc ô-tô. Bởi cũng chỉ chừng hơn vài chục năm trước, khi mà nền văn minh xe đạp Việt đang thời hoàng kim, nhiều tờ báo lớn cũng đặt cái câu hỏi ấy cho xe máy. Rồi chỉ cần đến năm chẵn hai nghìn, người ta đã nghẹn ngào có câu trả lời. Khắp mọi miền đất nước, từ sầm uất đô thị đến hẻo lánh vùng quê, phương tiện kinh hoàng để di chuyển chính là xe "bình bịch". Một nền văn hóa thong thả lúa nước phương Đông bắt đầu hỗn loạn động đậy, nó đã bị đổ xăng. Thực ra, từ khái niệm mô tô lên tới ô-tô cũng chẳng phải thăm thẳm gì. Xe đạp xe máy rồi xe hơi, đều là tinh hoa sản phẩm của nền văn minh cơ khí phương Tây. Có điều, liệu ô-tô có thành một văn hóa gần gũi với người Việt. Dù cho đến hôm nay, những chiếc xe hơi dân dụng sang trọng, tối tân đã lên tới tiền tỷ, nhưng thói quen đi xe máy vẫn ngấm đẫm trong tư duy thị dân. Hình như đã có một sự nuối tiếc vô thức về một nền văn hóa vừa tần tảo vừa lôi thôi nông nghiệp. Hao hao như kiểu đám văn nhân cũ kỹ, thích viết bằng bút hơn là bằng bàn phím. Đấy là chưa kể chính những người sử dụng ô-tô. Ở họ vắng thiếu một mặt bằng tri thức của văn hóa xe hơi. Khác với người phương Tây đã hoàn thành việc dân chủ hóa ô-tô, thì ở ta, kha khá nhiều trọc phú vẫn ngộ nhận và tạo những giá trị ảo khi huênh hoang được cưỡi trên xe bốn bánh.

Tuy nhiên, nếu ô-tô ít chỗ có một quá khứ hội nhập đầy bất trắc thì xe đông chỗ luôn được người Việt Nam hào hứng ưu ái. Có lẽ do dân ta quen sống trong những ngôi nhà ấm cúng "tứ đại đồng đường". Có vẻ như những cảnh chen chúc chật chội trên những chuyến xe buýt hay xe khách liên tỉnh không quá làm mọi người khó chịu. Không phải ngẫu nhiên mà hệ thống xe buýt nhanh (BRT) đang chạy ở Hà Nội được đông đảo thị dân ủng hộ.

Giống như nhiều giá trị thuần Việt khác, văn minh công nghệ khi đã vào nước ta, nó luôn mang một diện mạo văn hóa khác với phần còn lại của thế giới.

Nguyễn Việt Hà