Nhiều vấn đề đòi hỏi tiếp tục làm rõ

Thứ Ba, 18/04/2017, 01:55:28
 Font Size:     |        Print
 

Giờ thực hành môn Tin học của học sinh Trường phổ thông chuyên tỉnh Sơn La.Ảnh: ĐĂNG ANH

Ấn tượng tích cực của tôi là các tác giả trong ban soạn thảo dự thảo đã lắng nghe, tiếp thu với tinh thần cầu thị để xây dựng chương trình tổng thể (CTTT) vừa kế thừa, vừa chú trọng chỉnh lý, bổ sung để khắc phục một số vấn đề bất cập liên quan đến việc nhận dạng các phẩm chất và năng lực người học. Để tiếp tục hoàn thiện dự thảo sao cho chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) sau này thật sự đi vào cuộc sống, tôi thấy cần xem xét thêm một số vấn đề sau đây:

Trước hết, về quan điểm xây dựng chương trình GDPT theo hướng mở, đây là quan điểm tiến bộ, phù hợp với xu thế đổi mới chương trình GDPT hiện nay trong bối cảnh thế giới bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tuy nhiên, e rằng trong dự thảo, quan điểm này chỉ dừng lại ở một tuyên bố. Đó là, vì thời lượng dự kiến dành cho nội dung giáo dục của địa phương cùng với môn tiếng dân tộc thiểu số chỉ khoảng 5% tổng thời lượng chương trình, chẳng có gì khác biệt so với chương trình hiện nay. Còn nói rằng chương trình GDPT sẽ không quy định quá chi tiết để tạo điều kiện cho các tác giả sách giáo khoa và giáo viên phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện chương trình thì e rằng không ổn. Vấn đề là ở chỗ để tạo ra không gian mở cho các tác giả và giáo viên, nhất thiết phải chỉ ra trong định hướng nội dung từng môn học, những nội dung giáo dục cốt lõi cần bảo đảm. Đây là điều mà dự thảo CTTT còn thiếu.

Trong khi đó, mục tiêu của chương trình GDPT có ưu điểm là đã chỉ ra chân dung của người học sau khi hoàn thành chương trình GDPT. Có điều, khi xây dựng chương trình theo hướng tiếp cận năng lực, mục tiêu này cần tiếp tục làm rõ là chỉ ra những chuẩn đầu ra, tức là những cái mà người học biết, hiểu và có thể làm được sau khi hoàn thành chương trình. Dự thảo có nêu rõ “Yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực”, tuy nhiên, chỉ giới hạn ở việc đưa ra danh mục các phẩm chất và năng lực. Tuyệt nhiên chưa đưa ra được một cách ít nhiều tường minh về các yêu cầu cần đạt, tức là các chuẩn đầu ra của chương trình.

Về các phẩm chất và năng lực, đây là lĩnh vực còn nhiều ý kiến trái chiều. Tuy nhiên, với cách tiếp cận nghiêm túc của các tác giả dựa trên phân tích các tài liệu có liên quan trong nước và trên thế giới, tôi cho rằng việc nhận dạng các phẩm chất và năng lực trong dự thảo là phù hợp. Vấn đề làm thế nào để biến các phẩm chất và năng lực đó thành hiện thực? Điều này phải được làm rõ trước hết trong định hướng về nội dung giáo dục. Nhưng khi đọc định hướng về nội dung giáo dục của từng môn học hoặc lĩnh vực giáo dục, chỉ thấy phát biểu chung chung là “góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung cho học sinh”.

Đối với hoạt động trải nghiệm sáng tạo, đây là các hoạt động mới được đưa vào trong xây dựng chương trình GDPT trên thế giới, mục đích chính là chuyển hóa kiến thức, kỹ năng, thái độ thành năng lực của người học. Vì vậy, đó không hẳn là hoạt động riêng biệt mà chủ yếu là hoạt động gắn liền với từng môn học; là một phần của chương trình giáo dục môn học mà dự thảo cần nói rõ và có sự phân bổ hợp lý ngay trong từng môn học. Hoạt động này do các giáo viên bộ môn thực hiện trên lớp hoặc phối kết hợp với các giáo viên bộ môn tổ chức thực hiện để hướng tới xây dựng các năng lực chung. Tuy nhiên, trong dự thảo, hoạt động trải nghiệm sáng tạo có vị trí, vai trò như một môn học riêng biệt. E rằng cách tiếp cận này sẽ đặt ra một loạt vấn đề rắc rối như giáo viên nào sẽ là giáo viên phụ trách môn học này và liệu nhà trường có phải xây dựng chương trình đào tạo các giáo viên chuyên về tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo không.

Một yêu cầu quan trọng đặt ra trong dự thảo là định hướng đánh giá kết quả giáo dục. Quan điểm này phù hợp với giáo dục theo tiếp cận nội dung. Khi chuyển sang giáo dục theo tiếp cận năng lực, mục đích cần đánh giá là sự tiến bộ của người học theo quá trình giáo dục. Tiếc rằng sự thay đổi về phương pháp đánh giá này được đề cập rất mờ nhạt, chưa cho thấy bước chuyển căn bản của phương pháp đánh giá ngày nay trong giáo dục theo tiếp cận năng lực. Vì vậy, cần làm rõ hơn về việc kết hợp ba phương pháp đánh giá để định hướng cho cả người viết sách giáo khoa lẫn nhà trường và nhà giáo trong tổ chức thực hiện.

Dự thảo đưa ra bốn nhóm điều kiện thực hiện chương trình. Đây là các điều kiện cần, nhưng khó khả thi. Riêng về điều kiện “Nhà trường được tự chủ về chuyên môn, nhân sự và tài chính” đã thấy xa vời. Vì hiện nay quyền tự chủ nhà trường được thực hiện theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, theo đó mức độ tự chủ của nhà trường phụ thuộc vào mức độ tự bảo đảm kinh phí chi thường xuyên và chi đầu tư. Thực tế cho thấy, các trường phổ thông, nhất là trường tiểu học và THCS, quyền tự chủ sẽ rất hạn chế do sự phụ thuộc rất lớn của nhà trường vào ngân sách nhà nước. Vì vậy, để điều kiện về quyền tự chủ của nhà trường phổ thông được thực hiện, Bộ GD và ĐT cần đưa ra yêu cầu về xây dựng thể chế riêng liên quan đến quyền tự chủ của trường phổ thông công lập theo mô hình quản trị lấy nhà trường làm cơ sở đã được triển khai mấy thập kỷ nay trên thế giới gắn liền với đổi mới giáo dục theo tiếp cận năng lực. Có thể thấy rằng ngoài các nhóm điều kiện đã nêu, dự thảo còn thiếu một điều kiện quan trọng là xây dựng cơ chế giám sát và đánh giá theo kết quả đầu ra.

Theo Dự thảo chương trình tổng thể, môn Giáo dục kinh tế và pháp luật là môn học bắt buộc ở lớp 10, còn ở lớp 11 và 12 là môn học tự chọn bắt buộc. Nhưng tôi đề nghị đưa môn học này vào nhóm các môn học bắt buộc ở lớp 11 và 12 để giúp các em có nhận thức pháp luật tốt hơn bởi một bộ phận giới trẻ hiện nay rất dễ sa vào các tệ nạn xã hội hoặc có những hành vi vi phạm pháp luật mà bản thân các em không nhận thức được đó là vi phạm.

Cô giáo Nguyễn Thụy Khánh Vy

(Trường THPT Vĩnh Long)

Trước nay việc dạy học tích hợp vẫn được áp dụng nhưng đó chỉ là bước manh nha ban đầu, chưa thể khẳng định rằng tất cả các giáo viên và các môn học đều có thể vận hành một cách nhuần nhuyễn và hoàn chỉnh. Chính vì vậy, tôi nghĩ cần có những lớp tập huấn thật sự có hiệu quả, những hướng dẫn thật cụ thể và những tài liệu hỗ trợ hữu ích để giáo viên biết mình phải bắt đầu từ đâu và bắt đầu như thế nào, tránh sự bỡ ngỡ và thiếu tự tin khi đứng lớp.

Cô giáo Nguyễn Thị Xuân Thi

(Trường THPT chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vĩnh Long)

Những điểm mới được nêu ra trong dự thảo rất thuyết phục. Tuy nhiên tôi mong muốn Bộ GD và ĐT cố gắng giảm áp lực cho học sinh, đồng thời có nhiều chương trình thực hành, ứng dụng hơn là lý thuyết để vừa giúp cho học sinh có nhiều cơ hội trải nghiệm để vận dụng những kiến thức học được vào thực tiễn, vừa tránh được sự nhàm chán trong các tiết học.

Nguyễn Thị Mai Loan,

Phụ huynh học sinh (Ba Đình, Hà Nội)

TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến