Xây dựng chương trình nhìn từ trường phổ thông

Thứ Ba, 18/04/2017, 01:53:33
 Font Size:     |        Print

Bản dự thảo chương trình tổng thể lần này đã bám sát các yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD và ĐT, do vậy được đánh giá tốt hơn về tính khả thi. Tuy nhiên, vẫn còn một số băn khoăn và đề xuất một số ý kiến để ban soạn thảo xem xét, điều chỉnh phù hợp.

Bộ GD và ĐT đã xác định, phẩm chất năng lực học sinh, vậy kết quả đánh giá học sinh trong từng học kỳ, từng năm học cũng phải thay đổi. Chúng tôi đề nghị bỏ cách đánh giá đạo đức học sinh hiện nay theo thang bậc: Tốt, khá, trung bình, yếu kém. Cách phê học bạ của từng cấp học cũng phải thay đổi theo yêu cầu xác nhận nỗ lực của học sinh trong việc rèn luyện phẩm chất năng lực, không để giáo viên phê chung chung, đại khái như hiện nay (các nước nhận xét học sinh rất cụ thể những phẩm chất, năng lực đã làm tốt, những việc cần rút kinh nghiệm để học sinh làm tốt hơn). Bên cạnh đó, chúng tôi đề nghị xem lại cách đánh giá hết THCS (lớp 9) có nên để tình trạng học sinh chỉ tập trung vào học hai môn Ngữ văn, Toán để thi vào THPT như hiện nay không? Quan điểm của chúng tôi nên tổ chức cho học sinh thi hết THCS theo môn học bắt buộc: Ngữ văn, Ngoại ngữ, Toán, Lịch sử, Địa lý, Khoa học tự nhiên do các tỉnh, thành phố chỉ đạo một cách nhẹ nhàng, không gây áp lực nhưng đánh giá đúng kết quả học tập; lấy kết quả thi hết cấp thay cho thi vào THPT.

Về biểu hiện phẩm chất của học sinh Việt Nam, tuy chỉ là phần phụ lục nhưng chúng tôi lại cho là phần rất quan trọng. Bởi phần này nếu làm không tường minh sẽ ảnh hưởng rất lớn đến phần thiết kế chương trình môn học và chương trình giáo dục ở các cấp học và việc thực hiện các mục tiêu cấp học. Ban soạn thảo hết sức chú ý lắng nghe ý kiến đóng góp, nhưng sau mỗi lần sửa lại vẫn chưa quy tụ được sự đồng thuận của dư luận. Vì thế, trước khi đưa ra những phẩm chất cụ thể nên thống nhất các nguyên tắc xét chọn và đặc biệt có lẽ không nên lệ thuộc vào số lượng phẩm chất để phải lồng ghép một cách khiên cưỡng giữa các phẩm chất. Nhiều phẩm chất phải được rèn luyện lâu dài ở các cấp học, còn nội dung giáo dục sao cho phù hợp lứa tuổi từng cấp học nên để các bộ môn, các chương trình giáo dục từng cấp học tự lựa chọn, không cần thiết kế chi tiết.

Để chương trình tổng thể có thể thực hiện từ năm học 2018-2019, chúng tôi thấy mục định hướng về nội dung giáo dục, phần nói về giáo dục hướng nghiệp còn quá sơ lược. Chúng tôi thống nhất, giáo dục hướng nghiệp phải thông qua các môn học, thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo… Tuy nhiên, nếu không xác định đó là môn học chủ chốt, bắt buộc ở THPT thì e rằng phần định hướng nghề nghiệp ở cấp học này sẽ không đạt yêu cầu. Thực tế cho thấy, THPT là cấp định hướng nghề nghiệp nhưng lại lồng ghép các môn, làm sao có kết quả, phân tách thành một hoạt động giáo dục đặc biệt, bớt giờ của các hoạt động khác thì nó mới trở thành môn nòng cốt cho chương trình giáo dục THPT. Việc học sinh tự chọn các môn ở lớp 11 và lớp 12 cho phù hợp là một định hướng tốt, phục vụ cho định hướng nghề nghiệp của học sinh. Song, nếu trong chương trình tổng thể không phối hợp với các trường đại học, cao đẳng đề ra những tổ hợp nhất định cho học sinh lựa chọn thì sẽ gây rối loạn trong việc lựa chọn tổ hợp các bộ môn, gây khó khăn cho các trường THPT trong việc tuyển chọn và bố trí giáo viên hằng năm.

Đặc biệt, điều kiện quan trọng nhất là phải có đội ngũ giáo viên được bồi dưỡng đào tạo lại mới đáp ứng được những yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới. Chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2000 của nước ta có phần hạn chế nhưng không tồi, chỉ vì chúng ta không “đào tạo, bồi dưỡng tuyển chọn và đãi ngộ” một cách đồng bộ. Đây không phải là trách nhiệm của ban soạn thảo chương trình nhưng trong phần điều kiện thực hiện chương trình, ban soạn thảo không hề đề cập một câu chữ nào thì chắc chắn sẽ lại đi theo “vết xe đổ” của chương trình giáo dục phổ thông hiện hành. Bên cạnh các yêu cầu về đội ngũ nhà giáo đáp ứng chương trình tổng thể, cơ sở vật chất trong các nhà trường cũng phải được xem xét lại và phải chuẩn bị tích cực như đội ngũ nhà giáo.

TS Nguyễn Tùng Lâm

Phó Chủ tịch Hội Khoa học Tâm lý giáo dục Việt Nam