Chung quanh Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể

Cần nhiều yếu tố để quyết định sự thành công

Thứ Ba, 18/04/2017, 01:52:57
 Font Size:     |        Print
 

Học sinh Trường tiểu học khu đô thị Sài Đồng (Hà Nội) trong giờ học môn Tiếng Việt.Ảnh: NGỌC MAI

Ngay sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD và ĐT) công bố Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (chương trình tổng thể), nhiều chuyên gia giáo dục, nhà giáo còn băn khoăn về những điểm mới, tính khả thi, tiến độ thực hiện chương trình và thiết kế chương trình. Để chương trình tổng thể (CTTT) có thể áp dụng từ năm học 2018-2019, các chuyên gia đề xuất, kiến nghị dự thảo cần điều chỉnh, bổ sung nhiều giải pháp phù hợp thực tiễn khi triển khai.

Sẽ đổi mới toàn diện

Theo Ban soạn thảo, CTTT được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực, tạo môi trường học tập và rèn luyện, giúp người học tích lũy kiến thức phổ thông vững chắc; biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời; có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp; biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội; có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú; nhờ đó có cuộc sống ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại. Chương trình giáo dục phổ thông bao gồm CTTT (khung chương trình), các chương trình môn học và hoạt động giáo dục.

Ở chương trình hiện hành, học sinh phải học nhiều môn, vừa quá tải vừa không có điều kiện tập trung vào những môn phù hợp định hướng nghề nghiệp. Do đó, CTTT thực hiện giáo dục toàn diện, tích hợp ở các cấp tiểu học và THCS, thực hiện giáo dục phân hóa và tự chọn ở cấp THPT với hệ thống các môn học được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc. Theo đó, một số môn học mới ở các cấp học như: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo; Thế giới công nghệ (ở bậc tiểu học); Công nghệ và hướng nghiệp (ở THCS); Giáo dục kinh tế và pháp luật; Thiết kế và Công nghệ (ở THPT)... Bên cạnh đó, chương trình đã xây dựng “chân dung” học sinh mới cần hình thành, phát triển với sáu phẩm chất chủ yếu là: Yêu đất nước, yêu con người, chăm học, chăm làm, trung thực, trách nhiệm và 10 năng lực cốt lõi bao gồm những năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển.

Để đạt được mục tiêu này, dự thảo áp dụng đổi mới ngay từ phương pháp dạy và học. Trong đó, giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn, tạo môi trường học tập thân thiện để khuyến khích học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, nguyện vọng của bản thân, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và những kiến thức, kỹ năng đã tích lũy để phát triển...

Bên cạnh chú trọng phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh, dự thảo CTTT còn đề cập việc đổi mới đánh giá kết quả giáo dục với ba hình thức đánh giá: Đánh giá thường xuyên do giáo viên phụ trách môn học tổ chức thực hiện; đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức thực hiện và đánh giá trên diện rộng ở cấp quốc gia, cấp địa phương. Riêng đối với việc đổi mới đánh giá kết quả giáo dục và xét tốt nghiệp THPT, Bộ GD và ĐT phân công Vụ Giáo dục Trung học chủ trì, phối hợp Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục, Ban Phát triển Chương trình giáo dục phổ thông nghiên cứu, đề xuất lộ trình thực hiện khi cấp THPT triển khai chương trình mới. Ngoài ra, dự thảo cũng nhấn mạnh, trong giáo dục, chương trình là yếu tố có ý nghĩa then chốt. Tuy nhiên, để bảo đảm chất lượng giáo dục, còn cần có sự kết hợp nhiều yếu tố khác, trong đó những yếu tố quan trọng hàng đầu là: Chất lượng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục của nhà trường; sự phối hợp giữa giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và xã hội.

Vẫn còn nhiều băn khoăn...

Đánh giá về dự thảo chương trình tổng thể, Phó Chủ tịch Hội Giảng dạy Toán học phổ thông PGS, TS, NGƯT Vũ Dương Thụy cho rằng: Kế hoạch giáo dục có bước đổi mới căn bản, phù hợp xu thế chung cũng như yêu cầu của thực tiễn Việt Nam bằng cách chia các môn bắt buộc, bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn, tự chọn bắt buộc. Điểm nổi bật trong CTTT là ranh giới phân biệt rạch ròi ở mỗi bộ môn, đã mở dần nhường chỗ cho tích hợp bộ môn. Tuy nhiên, cũng không ít ý kiến băn khoăn cho rằng, dự thảo chương trình mới chưa cụ thể hóa ở cấp độ địa phương, cấp độ nhà trường, đặc thù văn hóa, môi trường, điều kiện gia đình, năng lực cá nhân học sinh và năng lực đội ngũ giáo viên. Theo chuyên gia Bùi Gia Thịnh (nguyên cán bộ Viện Khoa học giáo dục Việt Nam), CTTT có lẽ không thể áp dụng chung cho mọi vùng miền của nước ta. Cụ thể, không thể áp dụng cho những vùng xa xôi hẻo lánh, nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc thiểu số vì không bảo đảm học sinh học hết bậc tiểu học có đủ trình độ tiếng Việt để theo học có kết quả các bậc học cao hơn. Ở nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển, người ta vẫn phải có chương trình riêng cho các vùng miền đặc biệt. Mặt khác, dự thảo chưa thấy rõ sự cần thiết phân chia rạch ròi các năng lực cốt lõi thành năng lực chung và năng lực chuyên môn vì cả hai loại năng lực đều quan trọng như nhau và quan hệ khăng khít với nhau. Cách trình bày về năng lực có vẻ không thống nhất trong các môn học khác nhau về cả cấu trúc chung đến thuật ngữ sử dụng. Sự phân biệt về mức độ năng lực tìm hiểu tự nhiên giữa các cấp học, nhất là giữa cấp THCS và THPT chưa thật sự rõ ràng. Đồng ý với quan điểm nêu trên, thạc sĩ Đặng Danh Hướng, Trường THPT Hoàng Văn Thụ Hà Nội nhận định: Khoảng cách và độ chênh lệch giữa chương trình quốc gia với chương trình của các địa phương, các nhà trường trong từng trường hợp cụ thể sẽ là bài toán hóc búa trong thời gian tới.

Trong khi đó, chuyên gia Nguyễn Anh Dũng (Hội Khoa học Tâm lý giáo dục Việt Nam) cho rằng, mục tiêu chung không chỉ đề ra học sinh có ý thức lựa chọn nghề nghiệp mà nên có khả năng lựa chọn nghề nghiệp. Bên cạnh đó, mục tiêu cấp THCS cũng nên hướng cho học sinh có ý thức và khả năng lựa chọn tiếp tục học lên THPT hay chuyển sang trung học nghề, nghề hoặc tham gia lao động sản xuất. Học sinh cấp THCS và THPT học 29 đến 30 tiết/tuần, như vậy, số giờ học chiếm hết thời lượng của một tuần, không còn thời gian dành cho sinh hoạt trường lớp, sinh hoạt chuyên môn của giáo viên. Do đó, cần xem xét giảm số tiết/tuần. Phó Chủ tịch Hội Hóa học Việt Nam GS, TSKH Nguyễn Cương, đưa ra đề nghị giảm số giờ hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở cấp THCS từ 105 tiết xuống 70 tiết, bởi đây là hoạt động mới, nội dung không dễ, giáo viên lại chưa có kinh nghiệm, cho nên chỉ để số giờ cho hoạt động này bằng với số giờ ở cấp THPT. Nếu rút bớt như vậy, tổng số tiết trung bình một tuần ở lớp 6, 7 chỉ còn 28 tiết; lớp 8, 9 chỉ còn 29 tiết.

Lo ngại về tính khả thi ở một số điểm của dự thảo, Hiệu trưởng Trường THPT Thực nghiệm (Hà Nội) TS Phan Thị Luyến cho rằng: Nhìn vào bảng kế hoạch giảng dạy, kế hoạch giáo dục của các cấp, theo chương trình này thì học sinh lớp 8, 9, 10 phải học năm tiết/tuần, mỗi tuần học sáu ngày đã đủ 30 tiết theo chương trình. Vậy chúng tôi không biết đưa những tiết chào cờ, sinh hoạt lớp vào đâu? Liệu những tiết này có nằm trong hoạt động trải nghiệm sáng tạo? Bên cạnh đó, bài toán về đào tạo giáo viên cũng cần phải bàn đến để đáp ứng yêu cầu của chương trình. Chưa kể, việc cho phép học sinh lựa chọn môn học sẽ gây khó khăn cho các trường trong việc chuẩn bị nhân sự khi chương trình đi vào thực tế. Giám đốc Sở GD và ĐT Hà Tĩnh Trần Trung Dũng băn khoăn vì chưa rõ công tác chuẩn bị đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý như thế nào để thực hiện chương trình, bởi thời gian rất gấp, dự kiến chỉ còn hơn một năm nữa CTTT được áp dụng. Đại diện Sở GD và ĐT Thái Nguyên nêu quan điểm các môn học tự chọn được đưa ra trong dự thảo là Tiếng dân tộc thiểu số và Ngoại ngữ 2 rất khó thực hiện vì giáo trình ở đâu, lấy ai để dạy? Như ở Thái Nguyên có Khu công nghiệp Samsung, chúng tôi rất muốn dạy tiếng Hàn nhưng hiện nay chưa có giáo viên.

Trước những băn khoăn, thắc mắc của các chuyên gia, Tổng chủ biên CTTT GS, TS Nguyễn Minh Thuyết cho biết: Điều kiện thực hiện là thử thách lớn nhất của chương trình. Để chuẩn bị đội ngũ giáo viên thực hiện CTTT, Bộ GD và ĐT đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ có Quyết định phê duyệt Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025”. Về cơ sở vật chất, đây là trách nhiệm chung, nhất là trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền địa phương.

Trong CTTT, hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động thực hành, hoạt động này có thể bao gồm những sinh hoạt phục vụ cộng đồng, sinh hoạt tập thể như chào cờ, sinh hoạt lớp… Tuy nhiên, chương trình sẽ có quy định rõ ràng và có tài liệu học tập cho các địa phương vận dụng, tránh tình trạng biến hoạt động trải nghiệm sáng tạo thành du lịch trá hình, làm tốn tiền phụ huynh học sinh. Ngoài ra, về số tiết của các môn học, theo báo cáo của UNESCO và Ngân hàng Thế giới, tổng số tiết học của học sinh Việt Nam trong suốt 12 năm học chỉ bằng khoảng 63 đến 65% các nước phát triển, bằng 75% của Trung Quốc, 73% của Thái-lan. Vì các nước học hai buổi/ngày trong khi ở Việt Nam, nhiều nơi học sinh tiểu học còn chưa được học hai buổi/ngày. Do đó, chống quá tải là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Về việc tự chọn môn học phù hợp điều kiện của cơ sở giáo dục, trong chương trình đã ghi rõ học sinh được tự nguyện lựa chọn các môn học, nhưng nhà trường có quyền bố trí các tổ hợp môn học để vừa phù hợp điều kiện của học sinh, vừa phù hợp điều kiện dạy học của nhà trường. Ngay trong quy định của nhà trường phải nói rõ từ bao nhiêu học sinh trở lên thì mới có thể tổ chức được một lớp.

Trên cơ sở ý kiến chuyên gia và toàn xã hội, Ban Phát triển chương trình giáo dục phổ thông sẽ bổ sung, hoàn thiện CTTT vào tháng 9-2017, trình Hội đồng quốc gia Thẩm định chương trình giáo dục phổ thông lần cuối trước khi triển khai chính thức từ năm học 2018-2019.

Theo dự kiến, mặc dù CTTT bắt đầu thực hiện từ năm học 2018-2019, nhưng kỳ thi THPT quốc gia vẫn duy trì, giữ ổn định về hình thức thi và xét công nhận tốt nghiệp đến năm 2020. Chung quanh việc có nên tiếp tục kỳ thi THPT quốc gia khi có chương trình mới, Bộ GD và ĐT đã giao các đơn vị liên quan nghiên cứu, đề xuất lộ trình trên cơ sở đổi mới đánh giá kết quả giáo dục cũng như đề xuất của các địa phương.

Nguồn: Bộ GD và ĐT

Quỳnh Nguyễn - Huỳnh Dương

Chia sẻ