Trước nguy cơ thiếu điện trầm trọng

Thứ Bảy, 14/07/2018, 10:45:21
 Font Size:     |        Print
 

Đợt nắng nóng vừa qua, các tổ máy nhiệt điện đã phải chạy hết công suất. Trong ảnh: Một góc Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân (Bình Thuận). Ảnh: NGỌC HÀ

Theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030 (TSĐ VII) đã hiệu chỉnh, tổng công suất hệ thống sẽ đạt 60 nghìn MW vào năm 2020. Hiện nay, con số này là 46.830 MW, do đó, trong hai năm còn lại sẽ phải đưa vào vận hành thêm 13 nghìn MW. Điều gì khiến cho TSĐ VII khó lòng bảo đảm tiến độ?

Nhiều dự án nguồn điện bị phá sản

Công suất lắp đặt của hệ thống điện hiện nay đang ở mức 46.830 MW và công suất cao nhất trong những ngày nắng nóng vừa qua đã đạt 35.128 MW. Như vậy, công suất hệ thống đã vượt quá khả năng về mặt lý thuyết. Tình trạng này không thể duy trì trong thời gian dài, bởi lẽ, việc phát điện công suất cao liên tục sẽ tiềm ẩn sự cố, đặc biệt là đối với các nhà máy nhiệt điện chạy than. Nó đòi hỏi phải bổ sung nguồn một cách kịp thời.

Tuy nhiên, rà soát quá trình thực hiện Tổng sơ đồ Điện VII cho thấy, từ nay đến năm 2020 chỉ còn dự án Nhiệt điện Vĩnh Tân 4 mở rộng (công suất 600 MW) và Nhiệt điện Duyên Hải 3 mở rộng (công suất 600 MW) do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư hoàn thành đúng kế hoạch. Các dự án Nhiệt điện than Long Phú (công suất 1.200 MW) và Sông Hậu (công suất 1.200 MW), vào thời điểm này có thể khẳng định đã bị phá sản so với kế hoạch. Dự án Nhiệt điện Quảng Trạch 1 trước đây giao cho Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) nhưng do nhiều nguyên nhân không đáp ứng được tiến độ, Chính phủ đã quyết định giao lại cho EVN. Việc bàn giao đã hoàn tất, nhưng vẫn vướng giải phóng mặt bằng nên EVN đang lập lại quy hoạch. Nhanh nhất cũng phải đến năm 2022 mới có thể đưa vào vận hành.

Đối với các dự án Nhiệt điện khí (LNG), tiến độ cũng khó bảo đảm bởi đang bị “mắc kẹt” ở PVN. Theo TSĐ VII, dự kiến sau năm 2020, sẽ phát triển các nhà máy điện ở khu vực miền trung với tổng công suất khoảng 3.000-4.000 MW, tiêu thụ khoảng 3 đến 4 tỷ m3 khí/năm. Việc phát triển hệ thống kho, cảng nhập khẩu LNG tại Sơn Mỹ (Bình Thuận) để bổ sung khí cho các trung tâm điện lực: Phú Mỹ, Nhơn Trạch khi nguồn khí thiên nhiên tại khu vực miền Đông suy giảm được giao cho PVN. Song với tình hình hiện nay của PVN và tiến độ thực tế của dự án thì việc hoàn thành đáp ứng tiến độ là không thể!

Việc đưa khí từ Lô B vào bờ từ năm 2020 để cung cấp cho các nhà máy điện tại các trung tâm điện lực Kiên Giang và Ô Môn với tổng công suất khoảng 4.500 MW cũng đang trong tình trạng khó bảo đảm tiến độ kế hoạch do đến bây giờ vẫn chưa có giá khí nên chưa lập được Báo cáo Nghiên cứu khả thi. Nguồn khí cung cấp cho các nhà máy điện tại Phú Mỹ, Bà Rịa và Nhơn Trạch không có hy vọng bởi năm 2018 nguồn đã và sẽ còn tiếp tục bị suy giảm vào các năm tiếp theo.

Theo TSĐ VII, tổng công suất các nguồn thủy điện (bao gồm cả thủy điện vừa và nhỏ, thủy điện tích năng) từ gần 17 nghìn MW lên khoảng 21 nghìn MW vào năm 2020 và 24 nghìn MW vào năm 2025, trong đó, thủy điện tích năng là 1.200 MW. Hiện nay có hai Dự án thủy điện tích năng được biết đến là Bác Ái - công suất 1.200 MW (Ninh Thuận) và Đông Phù Yên - công suất 1.500 MW (Sơn La).

Được biết, Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án thủy điện tích năng Bác Ái được EVN phê duyệt từ năm 2008. Cùng thời điểm trên, Thủ tướng Chính phủ cho phép EVN lập dự án đầu tư (DAĐT), tổ chức thẩm định, phê duyệt DAĐT và phối hợp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để xem xét, thực hiện phân kỳ đầu tư trước một số hạng mục công trình của dự án, tính toán phù hợp với tiến độ tích nước hồ Sông Cái nhằm bảo đảm yêu cầu kinh tế-kỹ thuật, chất lượng và hiệu quả. Được biết, tổng mức đầu tư dự án này là 21.101 tỷ đồng, cơ cấu vốn dự kiến gồm 15% vốn chủ sở hữu và 85% vốn vay do EVN thu xếp. Song, Bộ Công thương đang xin ý kiến các Bộ để trình Thủ tướng Chính phủ giao dự án này cho Trung Nam Group. Dự án thủy điện tích năng Đông Phù Yên mới được Chính phủ đồng ý về nguyên tắc. Nên chắc chắn cả hai dự án này đều không thể đưa vào vận hành theo đúng tiến độ của TSĐ VII.

Không quyết liệt sẽ thiếu điện

Điểm lại các dự án nguồn điện sẽ hoàn thành phát điện vào năm 2020 theo kế hoạch của TSĐ VII một cách chắc chắn thì chỉ vỏn vẹn có 1.200 MW trên tổng số 13 nghìn MW. Như vậy, vẫn còn thiếu hụt hơn 11.800 MW so với kế hoạch của TSĐ VII. Vậy giải pháp nào sẽ giúp giải quyết tình trạng thiếu điện vào năm 2020 và các năm sau?

Trước hết, phải tính đến các dự án có thời gian thi công nhanh (trong điều kiện các thủ tục phải được rút ngắn nhất có thể), đó là nguồn điện năng lượng mặt trời. Thời gian thi công nhà máy điện mặt trời khoảng một năm, nhưng khó khăn nhất hiện nay là GPMB. Để thi công dự án điện mặt trời, trước hết, đất cấp không được ảnh hưởng tới sản xuất của các cá nhân và tổ chức và dự án phải nằm trong quy hoạch.

Việc phát triển điện mặt trời hiện nay còn ì ạch. Mới khởi công được bốn dự án với tổng công suất 300 MW. Mặc dù hiện nay, có rất nhiều chủ đầu tư đăng ký dự án điện mặt trời nhưng chưa có quy hoạch. Bộ Công thương chỉ đang thực hiện công tác tổng hợp các dự án đăng ký của các tỉnh mà chưa tính đến sự ổn định của hệ thống điện.

Bài toán quy hoạch không phải là con số cộng mà phải quy hoạch để có cụm điện mặt trời, từ đó đầu tư xây dựng trạm biến áp nút gom công suất, xây dựng lưới điện truyền tải. Việc này hiện nay chưa được thực hiện. Vậy, bài toán điện mặt trời có khả thi không?

Theo TSĐ VII, đến năm 2020, công suất điện mặt trời sẽ là 850 MW. Để đầu tư có hiệu quả, EVN phải quy hoạch các nhà máy điện mặt trời bên cạnh các nhà máy điện có khả năng điều tiết công suất truyền tải như nhiệt điện than, khí, thủy điện thay cho vai trò ắc quy (do giá 9,35 Uscents cho điện mặt trời chưa có giá ắc quy). Chính vì vậy, EVN đang có lợi thế đầu tư điện mặt trời trên mặt các hồ thủy điện ở miền trung và miền nam như Yaly, Sê San 4, Đa Mi, Đa Nhim, Trị An…

Một dự án nữa khả thi là quy hoạch xây dựng bốn nhà máy nhiệt điện khí (tổng công suất 3.000 MW) sử dụng khí từ mỏ Cá Voi Xanh. Trong đó tỉnh Quảng Nam đã chuẩn bị sẵn sàng 3.400 ha mặt bằng để nhà đầu tư triển khai ngay khi dự án được cấp phép.

Có thể nói vào thời điểm này, rất cần thúc đẩy những dự án nguồn điện khả thi nhất về tiến độ. Muốn vậy, sẽ cần đến sự tháo gỡ bằng cơ chế và không thể thiếu tinh thần chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ.

THANH MAI