Trị thủy phải an toàn

Thứ Bảy, 07/07/2018, 14:24:55
 Font Size:     |        Print
 

Đập thủy điện Đồng Nai 4 (Công ty Thủy điện Đồng Nai). Ảnh: NGỌC HÀ

Hiện nay, toàn quốc có 385 nhà máy thủy điện đang hoạt động, với tổng dung tích hồ chứa khoảng 56 tỷ m3 nước, chiếm 86% tổng dung tích hồ chứa trên cả nước… góp phần quan trọng trong sản xuất điện, bảo đảm an ninh năng lượng, cung cấp nước, hỗ trợ cắt, giảm hoặc làm chậm lũ cho vùng hạ du, bảo đảm an ninh lương thực và ổn định trật tự, an toàn xã hội.

Tuy nhiên, đi đôi với đó vẫn là những rủi ro khôn lường khiến cho việc bảo đảm an toàn các đập thủy điện, nhất là khi mùa mưa bão về phải được đặt lên hàng đầu.

Từ quy hoạch đã phải tính toán đến an toàn

Thống kê cho thấy, trên thế giới trung bình cứ 100 đập thì có một đập bị sự cố, ngay cả ở các nước tiên tiến cũng không tránh khỏi. Điều này chứng tỏ thủy điện luôn tiềm ẩn nguy cơ rủi ro, do đó, các quốc gia có thủy điện đều rất chú trọng tiêu chí để chọn địa điểm xây đập cũng như quy trình quản lý an toàn đập...

Đối với Việt Nam, để bảo đảm an toàn các công trình thủy điện, Chính phủ cùng với các bộ, ngành, địa phương tính toán an toàn đập từ khi thực hiện quy hoạch và thực hiện giám sát, kiểm tra chặt chẽ chất lượng công trình thủy điện ngay từ giai đoạn xây dựng. Đây được coi là khâu hết sức quan trọng. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức giám sát, kiểm tra nghiêm ngặt các dự án xây dựng thủy điện từ khâu khảo sát, thiết kế, thi công, nghiệm thu, quản lý an toàn đến giải quyết sự cố thi công và cam kết về môi trường; cho ý kiến vào việc điều chỉnh quy mô, thay đổi thiết kế bản vẽ kỹ thuật thi công so với hồ sơ thiết kế dự án,...

Đơn cử như sông Đà - một trong hai con sông lớn nhất miền bắc Việt Nam được đánh giá là có tiềm năng kinh tế lớn, cũng là con sông gây ra lũ lụt lớn nhất. Chỉ riêng về mặt năng lượng của dòng chính và các nhánh chủ yếu trữ năng kinh tế, chưa tính các thủy điện nhỏ (công suất đặt nhỏ hơn 30 MW) thực tế đã và đang khai thác sản lượng điện 27,6 tỷ kWh với 6.778 MW công suất đặt, chiếm gần 50% trữ năng kinh tế thủy điện cả nước.

Từ giai đoạn những năm 1960 - 1970, Văn phòng Ủy ban Khai thác và Trị thủy sông Hồng đã tổ chức nghiên cứu quy hoạch khai thác và trị thủy sông Hồng, trong đó đã đặc biệt lưu ý việc quy hoạch bậc thang thủy điện sông Đà. Đó là cơ sở để năm 1978, thủy điện Hòa Bình - bậc thang thứ nhất của Thủy điện sông Đà được phê duyệt xây dựng trước ở bậc thang cuối cùng với mực nước dâng bình thường (MNDBT) 215 m.

Đối với công trình Thủy điện Sơn La, bậc thang có vai trò quan trọng, vậy nên khi cân nhắc lựa chọn giữa hiệu quả kinh tế cao hay độ an toàn công trình, Quốc hội đã yêu cầu phải bảo đảm an toàn tuyệt đối cho công trình và cho hạ du. Do đó, phương án bậc thang Sơn La thấp, gồm 5 thủy điện: Lai Châu, Sơn La và Hòa Bình trên dòng chính; Huội Quảng và Bản Chát trên nhánh Nậm Mu, đã được lựa chọn sau rất nhiều bàn thảo.

Thực tế công trình đã được tính toán bảo đảm tính an toàn, ổn định với động đất cấp IX (MSK) và lũ cự hạn PMF. Đã kiểm tra trường hợp vỡ đập Sơn La mà nước không tràn qua đỉnh gây vỡ đập Hòa Bình. Trong trường hợp đó chỉ cần chú ý điều tiết mức nước hồ Hòa Bình trong tháng 10 hằng năm không được vượt mức 113 m. Lòng hồ Sơn La dành 3 tỷ m³ trên MNDBT để đủ chứa phòng khi vỡ đập Lai Châu (1,3 tỷ m³) và các đập đã có ở thượng nguồn tuyến Lai Châu (1,7 tỷ m³). Bản thân đập Sơn La, Hòa Bình và Lai Châu đều có công trình xả sâu phòng trường hợp có tình hình căng thẳng sẽ hạ mực nước hồ chứa.

Đến cuối năm 2012 có thể kết luận rằng, khai thác các bậc thang thủy điện sông Đà đã đạt bốn mục tiêu đề ra như bảo đảm khai thác nguồn thủy năng tái tạo để phục vụ phát triển kinh tế xã hội; chống lũ lụt đồng bằng Bắc Bộ trong đó có Thủ đô Hà Nội; cung cấp nước ngọt cho công nghiệp, nông nghiệp và nhu cầu dân sinh; cải tạo hệ thống giao thông thủy ở hạ lưu và phát triển hệ thống giao thông thủy ở thượng lưu. Đây cũng là kết quả thể hiện tính nghiêm túc trong giai đoạn quy hoạch, nghiên cứu, thiết kế kỹ thuật các dự án thủy điện.

Công nhân Công ty thủy điện Đa Nhim - Hàm Thuận - Đa Mi bảo dưỡng thiết bị đập tràn Đa Mi.

Cần siết chặt quản lý thủy điện nhỏ

Theo số liệu từ Bộ Công thương, trong tổng số 824 dự án thủy điện ở Việt Nam thì có tới 714 dự án nằm trong quy hoạch là các dự án thủy điện nhỏ có công suất lắp máy từ 1-30 MW, trong đó đã vận hành khai thác hơn 270 dự án, đóng góp khoảng 5,4% sản lượng điện cho hệ thống điện quốc gia. Theo quy hoạch, các dự án thủy điện nhỏ chiếm 86,6% tổng số các dự án và 29,2% tổng công suất thủy điện ở Việt Nam. Tuy nhiên, theo Bộ Xây dựng, những bất cập trong quá trình quy hoạch, xây dựng và vận hành các thủy điện nhỏ đang khiến đây trở thành mối nguy cơ thường trực về an toàn đập.

Trong bối cảnh các nguồn năng lượng hóa thạch đang cạn kiệt và giá cả tăng lên hằng ngày, đặc biệt là đối với Việt Nam đã dừng xây dựng nhà máy điện nguyên tử thì việc khai thác các nguồn nước trên các lưu vực sông để phát điện là hết sức cần thiết để giảm lệ thuộc vào năng lượng nhập khẩu và ổn định sản xuất cho nền kinh tế. Các thủy điện lớn (trên 30 MW) gần như đã được khai thác hết, hiện nay chỉ còn có thể khai thác thủy điện vừa và nhỏ. Nên vấn đề đặt ra là phải có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ từ các cơ quan chức năng có thẩm quyền trong quản lý và xây dựng thủy điện nhỏ. Bởi một khi các cơ quan quản lý nhà nước buông lỏng thì ắt sẽ xảy ra tình trạng các chủ đập thủy điện nhỏ chưa cập nhật, cũng như chưa thực hiện đầy đủ quy định về quản lý an toàn đập.

Tỷ lệ dự án thủy điện nhỏ chiếm 86,6% trong tổng số các dự án thủy điện đã được duyệt trong quy hoạch sẽ là áp lực rất lớn về an toàn đập, nhất là đối với các công trình thủy điện nhỏ. Do đặc điểm hầu hết thủy điện nhỏ không có hồ chứa nước, nếu có thì dung tích chứa nước cũng rất nhỏ, không có khả năng hạn chế, càng không có khả năng cắt lũ, nên vấn đề an toàn đập phải được quan tâm hơn nữa, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu, cực đoan của thời tiết hiện nay.

Đã đến lúc, các cơ quan quản lý nhà nước phải tăng cường quản lý thủy điện nhỏ từ khâu quy hoạch, chất lượng xây dựng công trình đến việc thanh tra, kiểm tra việc thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý an toàn, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quy định về quản lý an toàn đập. Cũng cần phải khẩn trương rà soát, sửa đổi những nội dung còn bất cập và các văn bản liên quan để bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước.

Chỉ trong vòng thời gian rất ngắn, từ tháng 10-2012 đến tháng 6-2013 đã có ba vụ vỡ đập thủy điện nhỏ: thủy điện Đắk Krông 3 (Quảng Trị), Đăk Mêk 3 (Kon Tum) và Ia Krel 2 (Gia Lai). Ngoài ra còn một số sự cố nghiêm trọng như tràn đập Hố Hô (Hà Tĩnh) hay vụ vỡ đường ống áp lực công trình thủy điện Đăm Bol - Đạ Tẻh (Lâm Đồng).


THANH MAI